What Is the Role of Premedication in the Pediatric Patient? | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa What Is the Role of Premedication in the Pediatric Patient? | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

You’re Wrong, I’m Right

What Is the Role of Premedication in the Pediatric Patient?



Elliot S. Schwartz and Anna Clebone

Case

Một cậu bé 5 tuổi chuẩn bị phẫu thuật thoát bị bẹn. Khối thoát vị to lên khi cậu bé ho hoặc khóc. Cậu không buồn nôn hay nôn, tiểu bình thường. Khối thoát vị mềm mại, không có dấu hiệu viêm

Khi bác sĩ gây mê bắt đầu đánh giá trước phẫu thuật, đứa trẻ bám vào mẹ và bắt đầu khóc. Cha mẹ cậu bé nói rằng họ cũng rất lo lắng.

Câu hỏi

Đứa trẻ này có nên dùng thuốc an thần trước không? Nếu không, thuốc nào thay thế được?

PRO: Nhiều bệnh nhân nhi có biểu hiện lo lắng trước phẫu thuật. Điều này liên quan tới biến chứng sau mổ như mức độ đau nhiều hơn, tăng nguy cơ mê sảng và suy giảm hành vi sau mổ [1]. Tôi sử dụng thuốc trước mổ bằng thuốc an thần do nó làm giảm lo âu cho trẻ và cha mẹ chúng, rút ngắn thời gian cần thiết để khởi mê, giảm nguy cơ các biến chứng tâm lý tiêu cực sau phẫu thuật. Thuốc

E.S. Schwartz

Department of Anesthesiology and Perioperative Medicine, University Hospital, Case Western Reserve University, 11100 Euclid Ave., Cleveland, OH 44106, USA

E.S. Schwartz (&)

2022 Murray Hill Road, Apt 2, Cleveland, OH 44106, USA e-mail: elliot.schwartz@case.edu

A. Clebone

Department of Anesthesia and Critical Care, The University of Chicago, 5841 S. Maryland Ave. MC-4028, Chicago,

IL 60637, USA

e-mail: aclebone@gmail.com

A. Clebone

60 E Monroe no. 4703, Chicago, IL 60603, USA

Lý tưởng phải khởi đầu nhanh, đáng tin cậy, tác dụng ngắn, ít tác dụng phụ. Có nhiều lựa chọn, nhưng midazolam uống (0,5-1 mg / kg, tối đa 20 mg) nên dùng ở bệnh nhân nhi, hiệu quả tối đa sau 15–20 phút.

CON: Một nghiên cứu cũ trong gây mê chứng minh rằng thăm khám tiền phẫu của bác sĩ gây mê sẽ làm giảm lo âu của bệnh nhân hơn dùng thuốc an thần [2]. Nghiên cứu này đã tiến hành ở người lớn nhưng cũng có thể áp dụng cho bệnh nhân nhi để thể hiện sự chu đáo. Khám bệnh nhân trước mổ làm giảm sự lo lắng của bệnh nhân và cha mẹ họ bằng cách giải thích chi tiết những gì họ thắc mắc và sự an toàn của trẻ sẽ được đảm bảo như nào. Cách tiếp cận đồng cảm với lo lắng của bệnh nhân trước mổ sẽ giúp cho việc dùng thuốc thường quy trước mổ là không cần thiết

PRO: midazolam tác dụng nhanh và ít ảnh hưởng tới hô hấp. Bạn có lo ngại gì về việc sử dụng midazolam?

CON: Phẫu thuật ống tai kéo dài khoảng 10 phút; tác dụng của midazolam rõ ràng là dài hơn nhiều. Điều này có thể ảnh hưởng đến tăng tỷ lệ mê sảng sau mổ. Ngoài ra, các phản ứng nghịch lý được ghi nhận thấy bệnh nhân tăng lo âu sau khi dùng midazolam. Khác

các yếu tố có thể hạn chế sử dụng của nó bao gồm hương vị xấu, cảm giác nóng rát khi tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm mũi, và tăng nguy cơ trục trặc [3]. Bạn sử dụng loại thuốc nào khác? Nó là điều cần thiết để biết rằng một ống tiêm đầy đủ của một premed có thể cung cấp càng nhiều lo lắng như là một mặt nạ cảm ứng.

PRO: Midazolam uống hay dùng nhất nhưng có rất nhiều phác đồ hiệu quả. Dùng liều nhỏ của midazolam, có thể kết hợp với ketamine uống (4-6 mg / kg). Midazolam cũng có thể dùng đường uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, trực tràng  hoặc qua đường mũi. Có thể thay cho benzodiazepine, fentanyl (5-15 mcg / kg) có thể dùng dạng kẹo hoặc sufentanil với liều 2 mcg / kg, mặc dù cần theo dõi sát phòng nguy cơ suy hô hấp. Các thuốc thay thế khác cần nghiên cứu nhiều hơn như chủ vận thụ thể alpha 2 clonidin và dexmedetomidine, có thể có khả năng làm giảm nguy cơ rối loạn hậu phẫu và đau. Dexmedetomidine có thể sử dụng cả đường uống và đường mũi. Khởi phát tác dụng chậm của clonidin đường uống và sinh khả dụng đường uống của dexmedetomidine làm hạn chế việc sử dụng của chúng (mặc dù liều uống cao hơn nghiên cứu cho thấy thành công). Không may là một nghiên cứu ngẫu nhiên gần đây tiến hành bằng cách sử dụng clonidin đường mũi chỉ có một nửa số trẻ em đáp ứng hoàn toàn 30 phút sau khi dùng thuốc [4].

CON: Khi mảng dược phát triển, nên nghiên cứu phương pháp không dùng thuốc để giảm lo âu. Một nghiên cứu đã chứng minh rằng việc giải thích gia đình có hiệu quả như midazolam [5]. Các yếu tố quan trọng nhất góp phần làm giảm lo lắng trước mổ là giải thích trước, mê qua mask và xao lãng sự chú ý của cha mẹ [6]. Các cách tiếp cận sáng tạo khác để giảm lo âu bao gồm việc bác sĩ sử dụng chú hề, bể cá…mục đích tạo ra môi trường thân thiện với gia đình.

PRO: Tôi lại lo ngại rằng đứa trẻ ban đầu đáp ứng tốt với các chương trình chuẩn bị trước mổ này nhưng nó sẽ đột nhiên trở nên lo lắng khi bạn bước vào phòng mổ. Cách tiếp cận phi dược lý của bạn sẽ như nào nếu trẻ bình tĩnh ở khu vực chờ mổ nhưng vào phòng mổ lại trở nên kích động khi bạn chuẩn bị khởi mê?

CON: Đối với trẻ như vậy, tôi sẽ dừng những gì đang làm để giao tiếp, hỏi han vấn đề của trẻ

Tôi đảm bảo rằng trẻ sẽ thấy cha mẹ sau khi cháu tỉnh và không cảm thấy hay nhớ bất cứ điều gì ở đây. Tôi nhắc nhở rằng cháu sẽ không đau sau khi tỉnh dậy. Bất cứ điều gì có thể hiểu nhầm, tôi sẽ giải thích kỹ cho cháu. Nếu trẻ yêu cầu một phụ huynh có mặt trong phòng mổ, tôi sẽ tôn trọng yêu cầu này. Trong một số trường hợp, việc trẻ em hoặc thanh niên giữ mask gây mê sẽ có thể giúp giảm bớt sự lo lắng.

PRO: Nếu sau những nỗ lực này, trẻ vẫn tiếp tục bị kích động và không hợp tác?

CON: Ở những bệnh nhân trẻ nhất của chúng tôi, sự có mặt của cha mẹ thường hiệu quả, có thể kết hợp với dùng thuốc trước đó. Nếu một bệnh nhân ở độ tuổi đi học vẫn còn bị kích động và không hợp tác, tôi sẽ có cuộc trò chuyện với cha mẹ trẻ về sắp xếp lại cuộc phẫu thuật hoặc phải dùng thuốc trước

PRO: Tôi đã quá quen với việc cha mẹ muốn có mặt trong thời điểm khởi mê [0], có nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng nào mô tả tác dụng của việc có mặt của cha mẹ trẻ trong quá trình khởi mê không?

CON: Sự có mặt của cha mẹ trẻ khi khởi mê vẫn còn tranh cãi, đặc biệt ở Mỹ. Tuy nhiên, kinh nghiệm của tôi cho thấy trẻ có thể được trấn an bằng cách tiếp xúc bằng mắt và chạm vào cha mẹ trẻ, giúp trẻ hợp tác hơn. Ví dụ, sự có mặt của cha mẹ trẻ giúp giảm lo lắng ở trẻ so với trường hợp không có mặt cha mẹ, nhưng tác dụng này ít hơn ở trẻ được dùng midazolam trước đó [11]. Ngoài ra, có thể không có lợi gì đối với trẻ nếu cha mẹ trẻ lại lo lắng đáng kể và mức độ lo lắng có thể thay đổi tùy theo độ tuổi của bệnh nhân [12].

CON: Cách tiếp cận của bạn khác nhau như thế nào dựa trên tuổi của bệnh nhân?

PRO Trẻ sơ sinh 6 tháng tuổi thường hiếm khi yêu cầu dùng thuốc vì lo âu không phải là vấn đề ở độ tuổi này. Tuy nhiên, ở trẻ lớn hơn bị lo âu,

Nên dùng thuốc trước đó. Từ 2-5 tuổi là lứa tuổi cần dùng thuốc nhiều nhất

  Tóm tắt

Giảm lo lắng trong giai đoạn tiền phẫu cải thiện kết cục sau phẫu thuật và sự hài lòng của cha mẹ. Cho dù mục tiêu kiểm soát lo lắng đã đạt được qua dùng thuốc an thần trước đó vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.

References

Kain ZN, Mayes LC, Caldwell-Andrews AA, Karas  DE,  McClain BC. Preoperative anxiety, postoperative pain, and behav- ioral recovery in young children undergoing surgery. Pediatrics. 2006;118(2):651–8.

Egbert LD, Battit GE, Turndorf H, Beecher HK. The value of the preoperative visit by an anesthetist. A study of doctor-patient rapport. JAMA. 1963;185(7):553–5.

Lönnqvist P-A, Habre W. Midazolam as premedication: Is the emperor naked or just half-dressed? Pediatr Anesth. 2005;15 (4):263–5.

Larsson P, Eksborg S, Lönnqvist P. Onset time for pharmacologic premedication with clonidine as a nasal aerosol: a double-blind, placebo-controlled, randomized trial. Pediatr Anesth. 2012;22 (9):877–83.

Kain ZN, Caldwell-Andrews AA, Mayes LC, Weinberg ME, Wang S-M, MacLaren JE, et al. Family-centered preparation for surgery improves perioperative outcomes in children: a randomized controlled trial. Anesthesiology. 2007;106(1):65–74.

Fortier MA, Blount RL, Wang S-M, Mayes LC, Kain ZN. Analysing a family-centred preoperative intervention programme: a dismantling approach. Br J Anaesth. 2011;106(5):713–8.

Vagnoli L, Caprilli S, Robiglio A, Messeri A. Clown doctors as a treatment for preoperative anxiety in children: a randomized, prospective study. Pediatrics. 2005;116(4):e563–7.

North I. Evaluation of a virtual tour for children undergoing same-day surgery and their parents. Pediatr Nurs. 2011;37  (4):177.

Sanchez M, Delpont M, Bachy M, Kabbaj R,  Annequin  D,  Vialle R. How can surgeonfish help pediatric surgeons? A pilot study investigating the antinociceptive effect of fish aquariums in adult volunteers. Pain Res Manag. 2015;20(1):e28–32.

McEwen AW, Caldicott LD, Barker I. Parents in the anaesthetic room—parents’ and anaesthetists’ views. Anaesthesia. 1994;49 (11):987–90.

Kain ZN, Mayes LC, Wang SM, Caramico LA, Hofstadter MB. Parental presence during induction of anesthesia versus sedative premedication: which intervention is more effective? Anesthesiology. 1998;89(5):1147–56.

Kain ZN, Mayes LC, Caramico LA, Silver D,  Spieker  M,  Nygren MM, et al. Parental presence during induction of anesthesia. A randomized controlled trial. Anesthesiology. 1996;84(5): 1060–7.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net