co giật có là vấn đề sau khi dùng chống tiêu sợi huyết? | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa co giật có là vấn đề sau khi dùng chống tiêu sợi huyết? | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

You’re Wrong, I’m Right

co giật có là vấn đề sau khi dùng chống tiêu sợi huyết?



Dmitry Rozin and Madelyn Kahana

Case

Một trẻ sơ sinh 7 ngày tuổi thiểu sản quai động mạch chủ và thông liên thất phẫu thuật tạo hình quai động mạch chủ và đóng thông liên thất. sử dụng tim phổi nhân tạo (CPB) trong 181 phút; thời gian kẹp chéo động mạch chủ là 66 phút. Hạ thân nhiệt sâu (DHCA) ở 18 ° trong 26 phút, và tưới máu não từng vùng (regional cerebral perfusion ) trong 12 phút. Không có vấn đề nghiêm trọng nào trong khi thực hiện tim phổi nhân tạo. Ca mổ thành công tốt đẹp, cho truyền tranexamic acid (TXA) và truyền chế phẩm máu. Ngày đầu sau mổ, bệnh nhân xuất hiện cơn co giật toàn thể. Bác sĩ hồi sức nhi gọi điện báo bạn hiện tại bệnh nhân của bạn đang bị co giật thứ phát do sử dụng TXA [1-16].

Câu hỏi

Nguyên nhân tiềm ẩn của cơn co giật này là gì? TXA có gây co giật hay không?

CON: Tổn thương thần kinh rất hay gặp sau phẫu thuật ngoài tim, nhất là khi sử dụng tim phổi nhân tạo có hạ thân nhiệt sâu. Tùy thuộc vào độ dài của DHCA, các cơn co giật chu phẫu có thể là biến chứng hay gặp. Nếu bệnh nhân như mô tả ở trên, điều quan trọng là chẩn đoán ngay để điều trị thích hợp. Bao gồm đánh giá một số bất thường liên quan tới co giật, xét nghiệm máu, ct sọ và xét nghiệm xem có hạ glucose, hạ kali

D. Rozin M. Kahana (&)

Department of Anesthesiology, Montefiore Medical Center, 111 East 210th Street, 4th Floor, Silver Zone, Bronx, NY 10467, USA e-mail: mkahana@montefiore.org

D. Rozin

e-mail: Rozindmi@gmail.com

hạ natri huyết, chảy máu trong sọ, tổn thương thiếu máu cục bộ cấp tính, và đột quỵ.

PRO: một số loại thuốc thường dùng để ngăn chảy máu trong phòng mổ. Tại sao bạn chọn TXA là thuốc có nguy cơ co giật mà không phải thuốc hiệu quả mà không có nguy cơ co giật như  e (epsilon) -ami-nocaproic acid? Chauhan kết luận rằng e (epsilon) – aminocaproic acid và TXA có hiệu quả tương đương nhau trong việc làm giảm nhu cầu truyền máu và chảy máu sau phẫu thuật ở trẻ. Eaton đã xem xét lại 22 nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng và kết luận rằng không có sự khác biệt đáng kể giữa TXA và e (epsilon) – aminocaproic acid trong việc giảm chảy máu và nhu cầu truyền máu.

Cơ chế tác động của cả hai chất tương tự lysine, TXA và e (epsilon) -aminocaproic acid, nhưng có một số khác biệt chính. Cả hai đều đảo ngược plasminogen, ngăn cản sự chuyển đổi plasminogen thành plasmin, cuối cùng làm trì hoãn tiêu sợi huyết [1]. Ở nồng độ cao hơn, TXA cũng có tác dụng ức chế plasmin trực tiếp [2, 3], vì vậy nó có thể tốt hơn. Ngoài ra, TXA có độ mạnh gấp 6-10 lần so với e (axit epsilon) -aminocaproic. Và một ấn bản gần đây của Boston đã mô tả phác đồ dùng TXA ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần làm tim phổi nhân tạo và không phát hiện ra biểu hiện co giật liên quan tới việc sử dụng TXA [16].

PRO: TXA đã được chứng minh là gây co giật do đối kháng GABA khi đưa vào hệ thần kinh trung ương [5]. Có một số nghiên cứu có xác định co giật là một nguy cơ sau dùng TXA

[6, 810], và ít nhất 1 nghiên cứu [10] cho thấy nguy cơ co giật sau dùng TXA cao gấp 10 lần so với e(epsilon)-aminocaproic acid.

Để ngăn chảy máu sau tim phổi nhân tạo có sử dụng thuốc chống đông là vấn đề phức tạp. Khi quyết định lựa chọn thuốc cần cân nhắc rủi ro và lợi ích của 2 loại thuốc sẵn có. Vì vậy, ở đây co giật có thể do DHCA hoặc TXA hoặc cả hai. Và có lẽ e (epsilon) -aminocaproic acid có thể là lựa chọn tốt hơn.

Tóm tắt

Điều trị chống tiêu sợi huyết rất quan trọng trong kiểm soát chảy máu trong phẫu thuật tim ở trẻ em. Hiện vẫn còn có tranh cãi về việc dùng e (epsilon) -aminocaproic acid và TXA. Có những nghiên cứu ủng hộ Txa là thuốc hiệu quả hơn, trong khi các nghiên cứu khác cho thấy chúng đều có lợi. Ngoài ra, có một số dữ liệu chứng minh tăng nguy cơ co giật khi dùng TXA, trong khi các nghiên cứu khác thì không. Cuộc tranh luận vẫn đang tiếp tục. Một điều không được tranh cãi: các khuyến cáo về liều lượng tối ưu cũng như thời gian và thời gian dùng thuốc chống tiêu sợi huyết cần phải được xác định cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Cho đến khi các dữ liệu dược động học gần đây của Boston nghiên cứu TXA [16] thì hầu như không có thông tin về liều lượng dùng cho trẻ em dựa trên bằng chứng vững chắc. Chúng tôi tiếp tục ngoại suy từ các nghiên cứu ở người lớn. Cần có nhiều nghiên cứu về dược động học và dược động học tối ưu, bao gồm cả tác dụng phụ của nó

References

1. Hoylaerts M, Lijen HR, Collen D. Studies on the mechanism of antifibrinolytic action of tranexamic acid. Biochim Biophys Acta. 1981;673:75–85.

Verstraete M. Clinical application of inhibitors of fibrinolysis. Drugs. 1985;29:236–61.

Ogston D. Current status of antifibrinolytic drugs. Blood Rev. 1989;3:1–4.

Koster A, Schirmer U. Re-evaluation of the role of antifibrinoltyic therapy with lysine analogs during cardiac surgery in the post aprotinin era. Curr Opin Anesthesiol. 2011;24:92–7.

Furtmuller R, Schlag MG, Berger M, Hopf R, Huck S, Sieghart W, Redl H. Tranexamic acid, a widely used antifibrinolytic agent, causes convulsions by a gamma-aminobutyric acid(A) receptor antagonistic effect. J Pharmacol Exp Ther. 2002;301:168–73.

Martin K, Wiesner G, Breuer T, Lange R, Tassani P. The risk of aprotinin and tranexamic acid in cardiac surgery: a one year follow-up of 1188 consecutive patients. Anesth Analg. 2008;107:1783–90.

Murkin JM, Falter F, Granton J, Granton J, Young B, Burt C,   Chu M. High dose tranexamic acid is associated with nonischemic clinical seizures in cardiac surgical patients. Anesth Analg. 2010;110:350–3.

Ender J, Brüning J, Mukherjee C, Mohr W. Tranexamic acid increases the risk of postoperative seizures in adults undergoing on-pump cardiac surgery. Abstract presented at the EACT meeting 2010. J Cardiothorac Vasc Anesth 2010; 24:Supplement P-78.

Sander M, Spies CD, Martiny V, Rosenthal C, Wernecke KD, von Heymann C. Mortality associated with administration of high-dose tranexamic acid and aprotinin in primary open-heart procedures: a retrospective analysis. Crit Care. 2010;14(4):R148.

Martin K, Breuer T, Gertler R, Hapfelmeier A, Schreiber C,  Lange R, et al. Tranexamic acid versus e-aminocaproic acid: efficacy and safety in paediatric cardiac surgery. Eur J Cardiothorac Surg. 2011;39(6):892–7.

Arnold DM, Fergusson DA, Chan AK, Cook  RJ,  Fraser  GA, Lim W, et al. Avoiding transfusions in children undergoing cardiac surgery: a meta-analysis of randomized trials of aprotinin. Anesth Analg. 2006;102:731–7.

Schouten ES, van de Pol AC,  Schouten  AN,  Turner  NM,  Jansen NJ, Bollen CW. The effect of aprotinin, tranexamic acid, and aminocaproic acid on blood loss and use of blood products in major pediatric surgery: a meta-analysis. Pediatr Crit Care Med. 2009;10(2):182–90.

Pasquali SK, Li JS, He X, Jacobs ML, O’Brien SM, Hall M, et al. Comparative analysis of antifibrinolytic medications in pediatric heart surgery. J Thorac Cardiovasc Surg. 2012;143(3):550–7.

Chauhan S, Das SN, Bisoi A, Kale S, Kiran U. Comparison of epsilon aminocaproic acid and tranexamic acid in pediatric cardiac surgery. J Cardiothorac Vasc Anesth. 2004;18:141–3.




Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net