» Chương 6 Siêu âm tim Chương 6 Siêu âm tim – Y học online

Tim mạch học những điều cần biết

Chương 6 Siêu âm tim



Hisham Dokainish, MD, FACC, FASE

Người dịch: BS Ngô Thị Kim Ánh

1. Siêu âm tim được thực hiện như thế nào?

Trong siêu âm tim, các đầu dò qua thành ngực và thực quản phóng thích tia siêu âm trực tiếp đến các cấu trúc tim. Sau đó các đầu dò này nhận lại tín hiệu siêu âm phản hồi và hệ thống vi tính trong máy siêu âm sẽ dùng các thuật toán để tái tạo hình ảnh tim. Thời gian sóng siêu âm trở lại đầu dò sẽ quyết định độ sâu của cấu trúc so với đầu dò vì tốc độ âm thanh trong mô mềm tương đối hằng định (1540 msec). Biên độ (cường độ) của tín hiệu phản hồi cho biết đậm độ và kích thước của cấu trúc tiếp xúc với sóng siêu âm.

Các đầu dò cũng thực hiện siêu âm Doppler, trong đó sự thay đổi tần số của tín hiệu siêu âm phản hồi cho biết tốc độ và hướng di chuyển của dòng máu trong cấu trúc tim

(vd: dòng máu qua van động mạch chủ …) hoặc ngay trong cơ tim (siêu âm Dopper mô).

Tiêu chuẩn thực hiện siêu âm tim được trình bày trong bảng 6.1.

  1. Siêu âm tim khác siêu âm Doppler như thế nào?

Siêu âm tim phân tích hình ảnh hai chiều của tim. Trong đó, thang xám được dùng để tạo hình ảnh tim dựa trên đậm độ và vị trí của cấu trúc so với thành ngực (hình 6.1). Siêu âm 2 chiều đặc biệt hữu dụng để xác định giải phẫu và hình thái học của tim, chẳng hạn như xác định dịch màng ngoài tim, phình thất trái, hoặc khối lượng tim.

Siêu âm Doppler phân tích sự chuyển động của máu trong và ngoài tim, dựa vào sự biến thiên tần số (biến thiên Doppler) khi sóng siêu âm tiếp xúc với vật thể chuyển động (thường là hồng cầu). Siêu âm Doppler có 3 mode:

Dopper màu đặc biệt hữu dụng để đánh giá độ nặng huyết động học của các bệnh cấu trúc tim, chẳng hạn như hẹp chủ nặng (hình 6-2), mức độ hở van hai lá (hình 6-3), vận tốc dòng máu qua thông liên thất, hoặc độ nặng của tăng áp phổi.

Phần lớn quy trình siêu âm thực hiện phối hợp siêu âm tim và siêu âm Doppler để trả lời những câu hỏi về hình thái học và huyết động học ngay trong một lần khảo sát (vd: âm thổi hẹp van 2 lá ), siêu âm 2D xác định sự hạn chế, dày và vôi hoá van 2 lá (hình 6-1), siêu âm Doppler phân tích độ nặng dựa vào vận tốc và chênh áp ngang van.

  1. Chức năng tâm thu được đánh giá bằng siêu âm như thế nào ?

Phân suất tống máu thất trái (PSTMTT) thường được sử dụng nhất để đánh giá chức năng tâm thu thất trái (TT), PSTMTT được xác định theo công thức:

BẢNG 6-1. TIÊU CHUẨN SIÊU ÂM TIM  THÍCH HỢP

Những chỉ định siêu âm tim thích hợp:

Những chỉ định siêu âm tim không chắc chắn:

§ Tìm nguyên nhân tim mạch ở bệnh nhân có biến cố thuyên tắc mà siêu âm tim qua thành ngực và điện tâm đồ bình thường, không có bệnh sử rung hoặc cuồng nhĩ.

Những chỉ định siêu âm tim không cần thiết:

§ Theo dõi thường quy những bệnh đã biết như suy tim, bệnh van nhẹ, bệnh cơ tim do tăng huyết áp, bệnh tim bẩm sinh đã sửa chữa hoặc theo dõi van nhân tạo khi bệnh nhân có lâm sàng ổn định.

§ Siêu âm tim cũng không phải là trắc nghiệm được lựa chọn để đánh giá ban đầu thuyên tắc phổi và không nên làm thường quy để tầm soát bệnh tim ở bệnh nhân tăng huyết áp không triệu chứng.

Chỉ định siêu âm tim qua thực quản thay thế cho siêu âm tim qua thành ngực như là một trắc nghiệm ban đầu:

§ Nghi ngờ bệnh động mạch chủ, bao gồm bóc tách động mạch chủ.

§ Hướng dẫn khi làm các thủ thuật tim qua da như cắt đốt và tạo hình van hai lá.

§ Xác định cơ chế hở van và đánh giá sự thích hợp cho can thiệp van tim.

§ Chẩn đoán hoặc theo dõi viêm nội tâm mạc nhiễm trùng ở bệnh nhân có khả năng trung bình-cao bị viêm nội tâm mạc nhiễm trùng

§ Sốt kéo dài ở bệnh nhân có dụng cụ trong tim

§ Không nên siêu âm tim qua thực quản để đánh giá huyết khối nhĩ trái ở bệnh nhân rung nhĩ đã quyết định điều trị bằng thuốc kháng đông

Phân suất co rút được tính theo công thức:

Hình 6-1: Mặt cắt cạnh ức trục dọc cho thấy van hai lá có hình gậy hockey điển hình (mũi tên) trong hẹp van hai lá hậu thấp.
ĐMC, động mạch chủ; NT, nhĩ trái; TT, thất trái; TP, thất phải

Hình 6-2. A, Doppler xung tại buồng tống thất trái của bệnh nhân hẹp van động mạch chủ. Vận tốc đỉnh của phổ Doppler (mũi tên) là 1.2 msec cho biết vận tốc dòng máu gần van động mạch chủ bình thường. B, Doppler liên tục ngang van động mạch chủ có vận tốc tối đa là 4.5 msec (mũi tên chấm). Do đó, vận tốc qua van động mạch chủ tăng gần gấp 4 lần, phù hợp với hẹp van động mạch chủ.

  1. Đánh giá chức năng tâm trương bằng siêu âm tim là gì? Siêu âm tim có thể cung cấp những thông tin gì?

Đánh giá chức năng tâm trương bao gồm hai vấn đề: xác định độ thư dãn thất trái và đánh giá áp lực đổ đầy thất trái. Độ thư dãn thất trái được mô tả là thời gian thất trái thư dãn trong kỳ tâm trương để nhận máu từ nhĩ trái thông qua van hai lá. Tim bình thường  rất đàn hồi và sẵn sàng nhận máu trong giai đoạn đổ đầy thất trái. Khi độ thư dãn bị tổn thương, thất trái không thể tăng thể tích dễ dàng, điều này làm tăng tiền tải thất trái, gây tăng áp lực nhĩ trái, dẫn tới phù phổi cấp.

Hình 6-3. Mặt cắt 4 buồng với Doppler màu (mũi tên trắng) cho thấy hở van hai lá nặng.
Lưu ý trên thực tế, hình ảnh Doppler này biểu hiện hở van 2 lá và các bất thường khác ở dạng màu đỏ và xanh.
Mũi tên đen chỉ van hai lá NTnhĩ trái; TT, thất trái; NP, nhĩ phải; TP, thất phải. (Courtesy Hisham Dokainish)

  1. Siêu âm tim Doppler có thể trả lời những câu hỏi về huyết động học như thế nào?
  1. Siêu âm tim đánh giá bệnh van tim như thế nào ?
  1. Siêu âm tim giúp chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân nghi có bệnh màng ngoài tim như thế nào ?

Hình 6-4. Mặt cắt cạnh ức trục dọc cho thấy có tràn dịch màng tim (DMT) lượng nhiều. TT, thất trái; TP, thất phải; ĐMC, động mạch chủ.
(Kabbani SS, LeWinter M: Cardiac constriction and restriction. In Crawford MH, DiMarco JP: Cardiology, St. Louis, Mosby, 2001.)

  1. Vai trò của siêu âm tim ở bệnh nhân đột quỵ do thiếu máu?

Các dấu hiệu siêu âm tim sau đây có thể kết hợp với nguyên nhân thuyên tắc tại tim ở bệnh nhân đột quỵ:

Chú ý: bệnh nhân không kèm rung nhĩ, có siêu âm qua thành ngực bình thường thì có thể loại trừ thuyên tắc do nguyên nhân tại tim và nhìn chung không cần siêu âm tim qua thực quản.

Hình 6-5. Siêu âm tim qua thực quản cho thấy huyết khối nhĩ trái (mũi tên)
ĐMC, động mạch chủ; NT, nhĩ trái; TT, thất trái.

  1. Dấu hiệu siêu âm của bệnh cơ tim phì đại là gì?
  1. Những chỉ định thường gặp của siêu âm tim qua thực quản là gì ?

Hình 6-6. Siêu âm tim qua thực quản cho thấy bóc tách động mạch chủ lên. Lòng động mạch chủ thật (thật) ngăn cách với lòng giả (giả) tại chỗ bóc tách

  1. Siêu âm tim có cản âm là gì ?

Siêu âm tim cản âm là tiêm chất cản âm nước muối sinh lý (saline) hoặc các vi bóng khí tổng hợp (bọt perflutren) vào tĩnh mạch hệ thống, sau đó xem hình ảnh tim trên siêu âm. Chất cản âm saline có kích thước tương đối lớn nên không qua được giường mao mạch phổi và chất này bị giữ lại tim phải. Do đó, khi chất cản âm saline xuất hiện nhanh trong tim trái cho biết có luồng thông trong tim.

Vì các vi bóng khí tổng hợp nhỏ hơn vi bóng khí của nước muối sinh lý nên chúng có thể qua được các mao mạch phổi và được dùng để đánh giá cấu trúc tim trái. Vi bóng khí tổng hợp thường được dùng để xác định rõ hơn bờ nội tâm mạc ở những bệnh nhân có cửa sổ siêu âm kém. Chất cản âm cũng được dùng để thấy rõ hơn các cấu trúc như khi nghi ngờ có huyết khối trong thất trái hoặc các khối khác.

Chất cản âm saline và tổng hợp đều có thể dùng làm tăng tín hiệu Doppler, chẳng hạn như bệnh nhân tăng áp phổi cần đánh giá áp lực động mạch phổi bằng dòng hở van ba lá.

  1. Siêu âm tim gắng sức là gì ?

Siêu âm tim gắng sức bao gồm siêu âm tim lúc nghỉ và sau đó theo dõi siêu âm khi gắng sức bằng vận động (thảm lăn hoặc xe đạp) hoặc dùng thuốc (thường là dobutamine). Mục đích của siêu âm gắng sức là xác định rối loạn vận động vùng thất trái do bệnh động mạch vành làm giảm tưới máu cơ tim

Các ứng dụng khác của siêu âm tim gắng sức bao gồm:

Tài liệu tham khảo, tài liệu nên đọc và websites:

  1. Abraham TP, Dimaano VL, Liang HY: Role of tissue Doppler and strain echocardiography in current clinical practice, Circulation 116:2597-2609, 2007.
  2. Armstrong WF, Zoghbi WA: Stress echocardiography: current methodology and clinical applications, J Am Coll Cardiol 45:1739-1747, 2005.
  3. Douglas PS, Khandheria B, Stainback RF, et al: ACCF/ASE/ACEP/ASNC/SCAI/SCCT/SCMR 2007 appropriateness criteria for transthoracic and transesophageal echocardiography, J Am Coll Cardiol 50:187-204, 2007.
  4. Evangelista A, Gonzalez-Alujas MT: Echocardiography in infective endocarditis, Heart 90:614-617, 2004.
  5. Grayburn PA: How to measure severity of mitral regurgitation: valvular heart disease, Heart 94:376-383, 2008.
  6. Kirkpatrick JN, Vannan MA, Narula J, et al: Echocardiography in heart failure: applications, utility, and new horizons, J Am Coll Cardiol 50:381-396, 2007.
  7. Lang RM, Mor-Avi V, Sugeng L, et al: Three-dimensional echocardiography: the benefits of the additional dimension, J Am Coll Cardiol 48:2053-2069, 2006.
  8. Lester SJ, Tajik AJ, Nishimura RA, et al: Unlocking the mysteries of diastolic function: deciphering the Rosetta Stone 10 years later, J Am Coll Cardiol 51:679-689, 2008.
  9. Otto CM: Valvular aortic stenosis: disease severity and timing of intervention, J Am Coll Cardiol 47:2141-2151, 2006.
  10. Peterson GE, Brickner ME, Reimold SC: Transesophageal echocardiography: clinical indications and applications, Circulation 107:2398-2402, 2003.
  11. Stewart MJ: Contrast echocardiography, Heart 89:342-348, 2003.

Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn