» Câu 71-75 Câu 71-75 – Y học online

Questions of Cardiology

Câu 71-75



71. Tại sao chúng ta hiếm khi chẩn đoán nhịp bộ nối lạc vị?

Nhịp lạc vị hay nhịp khử cực sớm là 1 trong những bất thường các bác sĩ hay chẩn đoán trên ECG

Nhịp nhĩ sớm (APDs) nhịp thất sớm (VPDs)

APDs và VPDs hình thành phần lớn tất cả các nhịp lạc vị trên lâm sàng.

Tại sao chỉ có tâm nhĩ và tâm thất tạo nhịp lạc vị còn nút nhĩ thất, bó his và sợi Purkinje hiếm khi sinh ra nhịp lạc vị?

Có phải ngã ba AV tương đối miễn dịch với nhịp lạc chỗ bộ nối JPDs?

Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ là “Có thể có”. Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhận ra rằng có thể nó không hiếm như chúng ta nghĩ vì có khi chúng ta không nhận ra nó!

Một số nghiên cứu về khử cực bộ nối sớm được thực hiện . ngã ba AV có tính chất độc đáo hơn so với bất kỳ bộ phận khác của tim. Bộ nối AV (nút AV không phải là một từ ưa thích vì giải phẫu không có thực thể này) có tác dụng điều hòa giúp đổ đầy thất phải hoàn toàn. Chúng ta gọi nó là khoảng PR

Vì vậy, khi mục đích cơ bản của bộ nối AV là làm chậm dẫn truyền thì nó sẽ không dễ nhận kích thích một cách dễ dàng nên JPDs hiếm khi xảy ra hơn so với lạc vị nhĩ hay thất

JPDs ít gặp trong khi nhịp thoát bộ nối thể hiện nhịp chậm trên thất nặng. nó xảy ra như nào?

Tế bào bộ nối AV độc đáo ở chỗ nó sẽ cứu tim bất cứ khi nào nút xoang phát nhịp chậm lại. Điều này xảy ra như một phản ứng thụ động Chúng tôi gọi đây là nhịp thoát bộ nối. khác biệt lớn giữa một nhịp JPD và nhịp thoát bộ nối (JEP hoặc JED) là thời gian ban đầu xuấ hiện nhịp. nhịp thoát bộ nối thường đến muộn .nhịp thoát bộ nối thường sẽ đến muốn hơn so với chu kỳ xoang trước. còn nhịp bộ nối lạc vị bao giờ cũng đến sớm hơn so với nhịp dự kiến tiếp theo

Sự khác biệt khác là nhịp thoát bộ nối giúp cứu lại và phục hồi nhịp xoang, thường bằng tần số ngã ba AV 40-50

 72. Viêm màng ngoài tim có thể giống như STEMI!

Nguyên nhân hay gặp nhất của ST chênh lên là STEMI.

Các nguyên nhân không nhồi máu có ST chênh lên bao gồm:

viêm màng ngoài của tim hội chứng tái khử cực sớm Tăng kali máu

Hội chứng Brugada

Tổn thương hệ thần kinh trung ương

cơ chế của ST chênh lên trong viêm màng ngoài tim là gì?

Trong viêm màng ngoài tim, chúng tôi không chắc chắn về sự có mặt của tổn thương ở các tế bào màng ngoài tim vì chúng không có khả năng khử cực và tái khử cực .Nhưng, thực tế là thượng tâm mạc và lớp lá tạng màng ngoài tim có giải phẫu gần như nhau.

Làm thế nào để viêm thượng tâm mạc làm ST chênh lên?

Đặc điểm st chênh lên lan tỏa các chuyển đạo và chênh lõm đặc trưng cho viêm màng ngoài tim. Điều này làm chúng tôi tin viêm màng ngoài tim là quá trình lan tỏa và liên quan đến toàn bộ chu vi của quả tim

Độ chênh lên của ST phụ thuộc vào sự lây lan của quá trình viêm dưới thượng tâm mạc. nếu viêm hoạt động mạnh sẽ làm st chênh rõ

ECG của cậu bé 15 tuổi vào viện vì sốt có viêm cơ tim- màng ngoài tim nặng. siêu âm thấy rối loạn chức năng thất trái nặng. cậu bé không đáp ứng với điều trị nội khoa và không qua khỏi sau 48h khởi phát sốc

chúng ta có thể khoanh vùng viêm màng ngoài tim với sự giúp đỡ của ECG?

Điều đó là có thể. Nhưng không có mục đích lâm sàng để làm điều đó.

troponin có tăng lên trong viêm màng ngoài tim?

Viêm màng ngoài tim không tăng troponin nhưng nếu ở vùng thượng tâm mạc bị có thể dẫn đến tổn thương viêm cơ và tăng troponin

Chú ý viêm màng ngoài tim ở vùng sau/thượng tâm mạc có thể bắt chước nmct thành dưới hoặc trước. vì vây có thể tránh can thiệp vành không cần thiết

73. Một cách đơn giản và hiệu quả để ngăn chặn một đợt ngất do phản xạ phế vị!

Ngất do phản xạ phế vị Vasovagal là nguyên nhân hay gặp nhất. cơ chế do phản ứng bất thường của phản xạ phế vị đáp ứng với sự gia tăng đột ngột hoạt động sau khi đứng thẳng lên, có liên quan tới cảm xúc hoặc căng thẳng. receptor của phản xạ này nằm ở thất trái Có hai thành phần tham gia

ức chế tim mạch giảm co mạch

vấn đề chẩn đoán

Trước khi chẩn đoán ngất do phản xạ phế vị cần loại trừ các nguyên nhân bệnh lý tim mạch

Xử trí ngất vasovagal.

 Hỗ trợ tinh thần Dùng thuốc

Một số thuốc có tác dụng như chẹn beta, cortisone Đây là những biện pháp đơn giản, rẻ tiền

DDDR máy tạo nhịp tim được cấy trên toàn thế giới cho hàng ngàn bệnh nhân bị ngất vasovagal.

Nước (H2O!) uống với số lượng thích hợp có thể ngăn hầu hết các trường hợp ngất do phản xạ phế vị. 1 cốc nước mỗi ngày có thể thay thế máy tạo nhịp giá 10.000$

74. Ý nghĩa của sóng T hai pha?

Sóng T là sóng bí ẩn nhất trong điện tâm đồ lâm sàng. Không có gì bất ngờ nếu một sóng T cao rộng và sóng T đảo ngược rõ rệt có thể là bình thường trong ít nhất 6/ 12 chuyển đạo chuẩn (V1 V2 V3, 2, 3 AVF, và tất nhiên là cả AVR)

các hình dạng chung của sóng T có thể là sinh lý hoặc bệnh lý

sóng T cao T âm

T có khía hoặc 2 pha sóng T 2 phase

*    Sóng T phân cực được xác định bởi vector QRS. Nói chung nó phải cùng hướng với QRS. Khi có rối loạn dẫn truyền hoặc phì đại buồng thất do thay đổi tái khử cực thứ phát.

Điều này phân biệt với sóng T 2 pha nguyên phát

sóng T hai pha là gì?

Là sóng T được ghi ở 2 bên đường cơ sở còn gọi là sóng T hai pha. 1 số người bình thường có thể có sóng T hai pha.

sóng T 2 pha có thể có hai loại

dương ở cuối âm ở cuối

âm ở cuối gặp nhiều hơn đặc biệt trong CAD.

Âm ở cuối trong chuyển đạo trước tim gợi ý thiếu máu cục bộ liên tục LAD

 Điều này xảy ra do sự phân tán của tái khử cực giữa màng trong tim và thượng tâm mạc. Các cơ chế khác có thể là thay đổi gradient thất giữa vector QRS và vector sóng T. Sóng T 2 pha có quan trọng?

Sóng T hai pha là do sự thay đổi trong phân cực. Nó có thể kéo xuống hoặc kéo lên đoạn ST liền kề. khoảng QT kéo dài liên quan chặt chẽ với sóng T hai pha.

1 số sóng U có thể xuất hiện bắt chước sóng T hai pha. Điều này hay gặp trong nhịp tim chậm. LVH là một trong những nguyên nhân xuất hiện sóng T hai pha (Thông thường pha thứ 2 dương)

sóng T hai pha có thể coi là hình thức biểu hiện của NSTEMI

Mặc dù, ST chênh xuống là biểu hiện của NSTEMI, hiện tại ở bệnh nhân NSTEMI có biểu hiện khác là sóng T hai pha.

75. Test gắng sức dương tính tương đương cơn ngắn của đau thắt ngực không ổn định

Nghiệm pháp gắng sức (EST) là một trong biện pháp đánh giá CAD.

Chẩn đoán ở những bệnh nhân nghi ngờ CAD

đánh giá tiên lượng ở bệnh nhân được chẩn đoán CAD .

Hiện nay có một sự thay đổi lớn trong suy nghĩ của chúng tôi, bệnh nhân bị đau thắt ngực điển hình sẽ chụp mạch vành và test gắng sức dương tính ít nhạy và đặc hiệu với CAD rõ ràng trên lâm sàng

Vì vậy, giá trị chẩn đoán ngày càng bị hạn chế trong việc đánh giá bệnh nhân đau ngực không điển hình.

Như nào là Test gắng sức dương tính?

đoạn ST chênh xuống > 2-3mm Xảy ra trong 1 lúc

Hạ huyết áp

đau thắt ngực kéo dài và phục hồi

liên quan khi chụp mạch với kết quả EST dương tính?

Bệnh động mạch vành chính trái Đầu gần LAD / LCX

tổn thương nhánh nghiêm trọng

Tương quan hình thái

Những bệnh nhân này thường có tổn thương xa tâm và ở vùng bờ (rìa) tổn thương không ổn định

ảnh hưởng của gắng sức lên hạn chế dòng tưới máu quan trọng ở điểm nào?

Khi tiến hành test gắng sức và áp lực trong mạch vành có thể ở ngưỡng lý thuyết 60- 90mmhg. Tiến hành gắng sức có thể làm những mảng bám lipid không ổn định, đây là lý do đau thắt ngực không ổn định là chống chỉ định tuyệt đối với EST.

EST dương tính mạnh gợi ý điều gì?

Nó cho thấy bệnh nhân cần chụp mạch cấp và có thể can thiệp ngay lập tức

Thông thường, những bệnh nhân này có cơn đau thắt ngực kéo dài và nhập viện vào đơn vị chăm sóc vành. đã có rất nhiều tỷ lệ mắc ACS ở những bệnh nhân này trong vòng 24 giờ EST. nhiều bệnh nhân tử vong trên đường về hoặc khi về nhà, vì vậy EST là thủ thuật kiểm tra an toàn trước khi cho bệnh nhân ra viện, thường sẽ thực hiện khi bệnh nhân đau ngực có ST chênh xuống

nếu test dương tính, bệnh nhân không bao giờ được cho về nhà ngay lập tức mà phải theo dõi và theo dõi trong 24h. thậm chí chụp đm vành nếu cần


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn