» Câu 46-50 Câu 46-50 – Y học online

Questions of Cardiology

Câu 46-50



46. Vấn đề điều trị trong STEMI sau dùng tiêu huyết khối thrombolysis xuất hiện nhịp xoang nhanh

Nhịp xoang nhanh trong những giờ đầu của STEMI là rối loạn nhịp tim rất hay gặp. vấn đề tưởng như đơn giản này thực sự đáng lo ngại đối với nhiều chuyên gia tim mạch và làm họ lo đến mất ngủ (trong khi bệnh nhân thì ngủ thoải mái!)

Tầm quan trọng của nhịp xoang nhanh trong STEMI chủ yếu nằm trong việc trả lời những câu dưới đây

A. nhịp xoang nhanh có bù? khi tâm thất trái đang vật lộn để duy trì cung lượng tim và làm việc cật lực để duy trì các chỉ số tim quan trọng

Hoặc là

B. nhịp xoang nhanh nhưng bù không thích hợp? Đó là đáp ứng với trương lực adrenergic cao và đáp ứng thần kinh từ cơ tâm thất bị thương.

Cần nhớ lại, tim đập nhanh dưới mọi hình thức đều bất lợi sau STEMI vì nó làm tăng mức tiêu thụ oxy của cơ tim MVo2. Đây là lý do, các thuốc chẹn beta được dùng trong tình huống này. nhịp tim nhanh bù trừ chống LVF sắp xảy ra.

Nhịp tim thường khoảng 120 / phút. nó có thể vượt lên đến 140 hoặc hơn. (Thông thường dao động quanh 120 (+/- 5) .stress hay lo âu làm dao động lớn hơn

Nhịp nhanh kèm s3 gợi ý chẩn đoán LVF.

Làm thế nào để kiểm soát nhịp nhanh xoang trong STEMI?

chẹn beta là chính. Bất kỳ thuốc chẹn beta nào như metoprolol, atenolol, carvidilol đều có thể dùng. Uống metoprolol có thể lên đến 50 mg. sử dụng thuốc chẹn beta chủ yếu có tác dụng trong nhịp nhanh mất bù. Vì vậy, điều quan trọng là phải nhận ra, carvidilol

không thể được sử dụng tự do, chỉ dùng trong nhịp xoang nhanh có nguy cơ LVF sắp xảy ra hoặc STEMI có triệu chứng.

*    Các nguy cơ gây nhịp nhanh như dopamine, dobutamine vv nên loai trừ

Các thuốc khác được lựa chọn là

Digoxin (nó vẫn rất tốt trong NMCT cấp với nhịp nhanh xoang dai dẳng, Ưu điểm là, nó có thể được sử dụng mà không cần phải phân biệt được đó có bù hay mất bù) Ivabradine, một loại thuốc kỳ diệu chọn lọc giảm tần số xoang mà không ảnh hưởng co bóp

47. Các khái niệm sai lầm trong co thắt mạch vành!

co thắt động mạch vành là một thực thể thường được thảo luận trong tim mạch lâm sàng. Được mô tả bởi nhiều thập kỷ trước là cơn đau thăt ngực Prinzmetal .không có khái niệm cơn co thắt vành ổn định ở bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định như nào là co thắt động mạch vành?

Tình trạng này được cho là rất phổ biến trong ACS, nhưng rất khó khăn để xác định. thực tế nhiều trường hợp nghi ngờ trên lâm sàng và không bao giờ có thể kiểm chứng. Hiện đã có rất nhiều test để kiểm tra co thắt mạch vành như ergonavine … không có xét nghiệm nào chứng minh được điều này.

Các tình huống lâm sàng khi co thắt mạch vành xảy ra?

Lâm sàng đã dạy chúng ta co thắt mạch vành có thể xảy ra trong tất cả trường hợp hội chứng mạch vành cấp tính hoặc thậm chí hội chứng mạch vành mạn tính.

Một số người tin ở STEMI sẽ có sự góp phần của co thắt mạch vành.

Trong NSTEMI / UA co thắt mạch vành là một cơ chế bệnh sinh quan trọng

Mối liên hệ giữa sự co thắt mạch vành và điện tâm đồ là gì?

Những sai lầm phổ biến nhất ở các bác sĩ tim mạch là co thắt mạch vành phải có ST chênh. Các giáo trình tim mạch cổ điển giảng dạy tất cả các nơi trên thế giới đã dạy các bạn như vậy. Thực tế sự co thắt động mạch vành, không bao giờ có thể có tác động trực tiếp đến điện tâm đồ. (Trừ khi, cơ trơn mạch vành tạo ra được sóng ST). Vì vậy, hiệu quả co thắt của nó là thông qua tác động của nó tới lưu lượng máu cơ tim.

 Do đó, không phải co thắt động mạch vành sẽ dẫn tới chuyển động của đoạn ST. những tác động của lưu lượng máu cơ tim tới cơ tim, màng trong tim, thượng tâm, thượng tâm vị sẽ tác động tới đoạn ST

Biểu hiện trên ECG của co thắt động mạch vành là gì?

ST chênh xuống ST chênh lên

thay đổi sóng T (cao hoặc âm sâu)

Đoạn ST Flattish hoặc ECG hiếm khi, hoàn toàn bình thường cho thấy lực lượng ST cân bằng. Đa số sẽ thấy ST chênh xuống. hình ảnh cổ điển trong nhiều trường hợp NSTEMI / UA.

ST chênh xuống biểu hiện ưu thế của co thắt mạch vành

Làm thế nào co thắt mạch vành có thể nâng đoạn ST chênh lên?

Nếu nó có thể gây ra thiếu máu cục bộ xuyên thành sẽ nâng đoạn ST chênh lên. Nhưng hiếm khi gặp. Để dẫn đến thiếu máu cục bộ xuyên thành, phải co thắt toàn bộ và kéo dài ít nhất vài phút.

*    1 số ít trường hợp co thắt ảnh hưởng vùng trên thượng tâm vị nhiều hơn màng trong tim gây st chênh lên.

Tác dụng của nitroglycerine trên co thắt mạch vành?

Tác động rất mạnh. Nó giữ ST ở vị trí trung lập .giảm đau thắt ngực trong UA / NSTEMI do giảm co thắt mạch vành

co thắt mạch vành do thần kinh hay sinh hóa?

Nguyên nhân liên quan sinh hóa, tín hiệu thần kinh cũng dẫn truyền trung gian bởi sinh hóa .

các chất trung gian sinh hóa gây co thắt mạch vành là gì?

Canxi ở cơ trơn: là nguyên nhân trực tiếp cho sự co thắt Dẫn truyền thần kinh: catecholamine,

Thromoxane A2 mà là một chất co mạch mạnh mẽ

co mạch vành và co thắt mạch vành là 1?

hai thuật ngữ đồng nghĩa. Co mạch thường được sử dụng để chỉ co mạch nhỏ trong khi co thắt thường liên quan tới mạch thượng tâm vị lớn.

 các yếu tố quyết định tới co thắt động mạch vành là gì?

Vị trí (RCA> LCA)

Đặc điểm tổn thương Thành phần huyết khối Tính cấp tính

Hoạt động của hệ adrenergic và thần kinh

48. Tại sao inferior MI ít nguy hiểm?

Nhồi máu cơ tim (STEMI) xảy ra ở 2 vùng cấp máu riêng biệt . LAD cung cáp thành trước, RCA/LCX cấp máu thành sau dưới.

NMCT thành dưới ít nguy hiểm hơn so với thành trước. Đúng hay sai ?

Trả lời: Về cơ bản đúng trong hầu hết các tình huống.

Thành dưới của tim (nói đúng ra không có thành của tim, chỉ có bề mặt và pha trộn với bề mặt tạo bởi cơ hoành mà mặt sau tim.nmct thành dưới có thể do tắc RCA hoặc LCX.theo ước tính 75% thất trái cấp máu bới LCA.

Khi làm tan huyết khối, nhiều nghiên cứu cho rằng độ chênh của ST đa phần đều giảm kể cả không dùng tiêu huyết khối, điều này có nghĩa dùng thuốc tiêu huyết khối phần lớn thành công khi tắc RCA. Sự khác biệt nổi tiếng trong khiếm khuyết về dẫn truyền giữa thành trước và dưới trong NMCT (block AV ở thành dưới trong MI, thường thoáng qua, không tiến triển hiếm khi cần dùng máy tạo nhịp vĩnh viễn). Trong giai đoạn cấp tính sốc tim xảy ra (có thể kèm sốc- RV). Ngay cả khi đó phân suất tống máu ở nmct thành dưới hầu như luôn luôn trên 40%. Trong nhiều trường hợp EF không bị ảnh hưởng gì cả.

yếu tố giải phẫu

Mặc dù có những yếu tố trên nhưng nmct thành dưới không nên coi nhẹ, đặc biệt khi nó lan rộng về phía sau và bên (hiếm khi ra thành trước) . Trong khi lan ra thành sau thường tiên lượng tốt thì thành bên lại không như vật. có lẽ do khi lan rộng ra phần bên liên quan các vách của LV dễ gây LVF. Lan rộng ra thành sau chủ yếu liên quan bề mặt thất phải, ít ảnh hưởng huyết động.

49 huyết động ở mạch vành khi tắc 100%?

Tắc hoàn toàn động mạch vành hay gặp trong CAD đặc biệt là trong đau thắt ngực ổn định mạn tính. Bình thường lưu lượng máu mạch vành là 5% lưu lượng tim khoảng 250-300ml /

p. nhịp tim trung bình 70l/p có thể bơm 5cc chia đều cho hai động mạch vành. Điều này có nghĩa, chỉ vài CC (2-3cc) của máu vào từng động mạch vành với mỗi chu kỳ tim.

Khi một trong những động mạch vành tắc hoàn toàn điều gì sẽ xảy ra?

A.Tổng lượng máu động mạch vành vẫn có thể duy trì bình thường lúc nghỉ hoặc giảm nhẹ

B. Người ta tin rằng, động mạch vành không bị tắc có thể nhận máu thay bên đối diện. Điều này có thể giải thích vì sao đường kính động mạch vành tăng lên ở các động mạch không bị tắc nghẽn.

C. theo tự nhiên, các động mạch vành bên đối diện sẽ chia sẻ 50% lượng máu cấp qua các nhánh bên nếu có.

D. nếu không có các nhánh bên, các động mạch vành không bị tắc có thể được tưới máu gấp đôi .

50. Tại sao chúng ta nhìn V1 chẩn đoán RVH nhưng nhìn V4R để chẩn đoán nhồi máu RV?

Tâm thất phải là buồng tim nằm phía trước nhất và có hình tam giác. Mặc dù các thành của RV không được phân định rõ ràng, nó có trước, sau và mặt tự do.

Cấu trúc giải phẫu của RV là như vậy nên nó không thể có RVH đồng tâm (như LVH). Trong thực tế, phía bờ tự do (mặt bên) phì đại trong PHT/ Hẹp động mạch phổi. mặt sau dưới thất phải ít khi phì đại

RV nằm phía trước nhất, ngay bờ trái xương ức nên RV rất gần với thành ngực. nhìn V1 thấy R cao

Điều gì xảy ra trong RVMI?

Thật không may, khi chúng ta đề cập đến RVMI, chúng tôi thường không cố xác định hoặc ước tính kích thước. Hầu hết RVMI xảy ra như ở thành sau, dưới MI . do đó ít gặp ở mặt trước của RV. Tuy nhiên, nó có thể gặp khi RCA tắc nhánh RV lớn ở mặt trước RV Mặt trước RVMI có thể xảy ra như 1 phần của LAD MI, nếu có nhánh đi qua bề mặt RV.

Hầu hết RVMI không liên quan đến mặt trước của RV vì vậy ít khi có ST chênh lên. Hơn nữa, nếu thành sau RV MI xảy ra (Mà thường là trường hợp!) V1 không bao giờ có ST chênh lên mà có xu hướng chênh xuống trong V1, V2.

Lợi thế của V4 R?

V4R ghi lại áp lực RV từ xa, không bị ảnh hưởng bởi ST thành sau dưới. Do đó ST chênh lên 1mm trong chuyển đạo bên thất phải có độ nhạy và đặc hiệu cao trong chẩn đoán RVMI.

Khi nào V1 có ST chênh lên trong RVMI?

Nếu thành trước RV tham gia (Tức là RVMI thành trước) ST chênh lên có thể gặp ở V1 Hiếm khi q RBB có thể xảy ra ở V1 trong trường hợp chỉ có RVMI đơn thuần


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn