» Câu 26-30 Câu 26-30 – Y học online

Questions of Cardiology

Câu 26-30



26. Rung nhĩ là một rối loạn nhịp tim lành tính?

Rung thất luôn gây tử vong nếu không được điều trị. Còn rung nhĩ có thể gây tử vong?

Rung nhĩ là rối loạn nhịp tương đối lành tĩnh đặc biệt khi nó xảy ra độc lập với các cấu trúc bình thường của tim. đôi khi được gọi rung nhĩ đơn độc. Rung nhĩ hiếm khi gây tử vong, ngoại trừ trong vài trường hợp. Rung nhĩ AF thường mất ổn định ở các bệnh nhân có bệnh van tim hoặc bệnh cơ tim. (sau MI, bệnh cơ tim giãn)

Có vài tình huống mà AF có thể nguy hiểm đe doạ tính mạng

Ở những bệnh nhân có hội chứng WPW, AF sẽ có thể chuyển thành cuồng nhĩ , làm tăng tần số lên 400-600. Lúc này có thể bn không chết vì rung thất đã chết do rung nhĩ.

AF trong NMCT cấp thường gây suy thất trái LVF, nhưng hiếm khi gây chết.

Ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch chủ nặng hoặc bệnh cơ tim phì đại, khởi phát đột ngột AF có thể gây suy tim cấp tính.

AF thường là hậu quả cuối của tăng áp động mạch phổi nguyên phát. Trong khi rung nhĩ ít có khả năng gây tử vong, nhưng nó lại là rối loạn nhịp tim rất bệnh hoạn, Nó là một trong những nguyên nhân quan trọng gây đột quỵ ở người già cũng như trẻ!

CASE

Bệnh nhân nữ 76 tuổi tiền sử bệnh động mạch vành (CAD), tăng huyết áp, tăng lipid máu, cơn thiếu máu thoáng qua (TIA), và đái tháo đường (DM) kiểm soát bởi thuốc vào viện 2 ngày trước vì viêm phổi và được điều trị bằng kháng sinh. Bệnh nhân đột nhiên xuất hiện rung nhĩ (AF) với tỷ lệ thất nhanh (RVR)

Mà không có triệu chứng. phác đồ điều trị thuốc hiện tại là aspirin, atorvastatin, lisinopril, metoprolol succinate, metformin và moxifloxacin. điện tâm đồ

THẢO LUẬN TRƯỜNG HỢP

Trường hợp này trình bày một số vấn đề phải quyết định trên lâm sàng ở bệnh nhân RN. Những quyết định này xoay quanh 4 mục tiêu chính trong điều trị AF cấp tính:

 1. Có cần sốc điện trong các trường hợp rung nhĩ cấp tính

2.  Kiểm soát tỷ lệ thất trong AF

3.  Chiến lược kiểm soát nhịp và tần số

4.  Đánh giá nguy cơ huyết khối tắc mạch và chảy máu, lợi ích và rủi ro khi áp dụng biện pháp điều trị.

Thông thường trong các hệ thống mạch máu thì động mạch và tĩnh mạch luôn đi cùng nhau, nhưng thật kì lạ trong tuần hoàn phổi chúng lại không bao giờ đi cùng nhau .

Nghịch lý khác là động mạch phổi mang máu đã khử ôxy và tĩnh mạch phổi lại mang dạng máu tinh khiết nhất của máu trong cơ thể , có lẽ chúng được tách rời hẳn nhau ví lo sợ ảnh hưởng đến sinh lý.

27. Điều gì quyết định sự ổn định huyết động trong nhịp nhanh thất?

Nhịp nhanh thất được coi là một trong những rối loạn nhịp tim nguy hiểm nhất. Hơn nữa VT luôn có nguy cơ tiến triển thành rung thất.

Điều gì quyết định sự ổn định huyết động ở VT?

Nguồn gốc và vị trí của VT Tần số thất

Có hay không có AV phân ly

Ảnh hưởng đến dòng máu qua van hai lá

rối loạn chức năng thất trái hoặc bệnh van tim.

VT trong hội chứng mạch vành cấp. (Thiếu máu cục bộ VT) lựa chọn thuốc phù hợp

Nguồn gốc và vị trí

VTs xuất phát từ phía trên của tâm thất giúp tâm thất co có tổ chức và ổn định.Distal VT (VT khởi phát vùng dưới tâm thất) có nguồn gốc từ các cơ tim đã được dẫn truyền đang rất hỗn loạn nên VT vị trí này rất không ổn định.

Thuật ngữ VT fascicular (VT bó)chưa nghe đến những VT có nguồn từ các bó hoặc nhánh thì có. Thường vị trí này cũng ổn định và khi đáp ứng tốt với các thuốc chẹn canxi chỉ ra rằng vị trí này rất gần ngã 3 AV mà mang đặc tính nhịp nhanh bộ nối. Độ rộng của QRS có thể giúp ước lượng sơ qua về vị trí VT. QRS hẹp thường gợi ý nguồn gốc khởi phát VT ở trên cao (Nhưng nhớ ngay cả ở VT, QRS có thể tiếp tục rộng ra khi dẫn truyền từ trên đi xuống)

Rối loạn chức năng thất trái LV.

Đây có lẽ là yếu tố quyết định quan trọng nhất trong VT. Bệnh nhân có rối loạn chức năng LV nặng (EF <30%) tiên lượng rất xấu .Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là giãn cơ tim. ! số sẽ xuất hiện dẫn truyền vào lại các nhánh (BBR). Đây là dạng VT đã ổn định trong nhiều giờ.

Tần số thất.

Thông thường VT có tần số từ 120-200. Tần số thất cao hơn thường bất ổn . Điều này cũng không phải luôn đúng như trong trường hợp có fascicular VT. Vị trí VT và rối loạn chức năng LV thường ảnh hưởng đến tỉ lệ thất

Lưu lượng dòng chảy qua van hai lá đổ đầy thất trái giúp ổn định huyết động trong VT. Trong thiếu máu cục bộ cơ tim có VT, dòng máu qua van 2 lá bị ảnh hưởng nghiêm trọng . sẽ không thể đổ đầy thất trái giúp ổn định huyết động.

nếu có bệnh lí liên quan tới van tim, động mạch chủ và van hai lá có thể làm nặng thêm rối loạn huyết động ở bệnh nhân có VT.

28. Triệu chứng tim mạch: hồi hộp – một số quan sát

Đánh trống ngực là một trong những triệu chứng hay gặp nhất mà các bệnh nhân thường gọi là hồi hộp đánh trống ngực. Giống như khó thở, tim hồi hộp có thể là một

Biểu hiện sinh lý bình thường hoặc trạng thái bệnh lý nguy hiểm của tim. Điều này làm cho các bác sĩ phải khám và đánh giá cẩn thận. Theo định nghĩa đánh trống ngực là những biểu hiện bất thường ở tim mà bệnh nhân nhận thấy được. Các nguyên nhân do thần kinh gây đánh trống ngực chưa rõ ràng. Khi tim chạm vào thành ngực có thể theo các dây thần kinh ở thành ngực dẫn truyền tín hiệu.

Nguyên nhân đánh trống ngực là gì? Do tim

Tăng tuần hoàn ở thất phải, trái hoặc cả hai.

tổn thương trào ngược ở van 2 lá hoặc van động mạch chủ

Bệnh tim bẩm sinh (Chủ yếu là shunt trái sang phải ASD / VSD..) bệnh nhân thay van tim giả, đặt máy tạo nhịp tim

Loạn nhịp tim (Cả nhanh và chậm), nhịp thất lạc chỗ Sa van hai lá, thường lành tính

Không do tim

Sinh lý

Trạng thái lo lắng Thiếu máu

Mối quan hệ giữa phân số tống máu và đánh trống ngực là gì?

Nói chung đánh trống ngực chỉ trạng thái tăng hoạt động của tim . Nguyên nhân phổ biến nhất là do hồi hộp, lo lắng . Ngoài ra cũng do nguyên nhân thiếu máu, sốt, nhiễm độc giáp, mang thai … Trong tất cả các tình huống, đánh trống ngực là dấu hiệu của tăng sức co tâm thất tạo ra dp / dt (Tỷ lệ gia tăng áp lực tâm thất). Vì vậy, khi có biểu hiện hồi hộp, đánh trống ngực có thể là bằng chứng gián tiếp chứng tỏ chức năng LV còn khá tốt. “Bệnh nhân có giãn cơ tim hoặc CHF hiếm khi thấy đánh trống ngực khi gắng sức mà thường thấy khó thở do LV co yếu”

Đánh trống ngực có thể do loạn nhịp, nhịp nhanh hoặc chậm.

“ASD là nguyên nhân phổ biến nhất gây hồi hộp bên thất phải”

 29. Làm thế nào ngồi xổm lại giúp giảm khó thở khi gắng sức ở bệnh nhân tứ chứng Fallot?

Thực tế ngồi xổm cũng được biết đến là một tư thế bù thích nghi đơn ở trẻ em bị bệnh tim có tím tái khi phải gắng sức để dễ thở hơn. Trẻ bị tứ chứng Fallot thường thiếu oxy do shunt phải sang trái . Khó thở khi phải gắng sức. Nếu ngồi sẽ cải thiện bão hòa oxy ngay lập tức.

Huyết động học của ngồi xổm có hai giai đoạn

Ngay lập tức (trong 15 giây đầu) sau khi ngồi xổm có giảm đột ngột phản hồi dòng máu tĩnh mạch.

Ngồi xổm tiếp 1-2 phút sẽ gia tăng ổn định quá trình hồi lưu máu về tĩnh mạch, tăng kháng trở mạch máu.

Khi khó thở do gắng sức mà ngồi xổm sẽ tăng kháng trở mạch máu và động mạch chủ sau khi đủ tải sẽ chuyển hướng dòng máu vào động mạch phổi. Ngồi xổm giúp tăng thoáng qua hoặc duy trì lưu lượng máu lên phổi giúp giảm tương đối shunt trái

30. Đau thắt ngực ổn định có thể xảy ra khi nghỉ ngơi?

Đau thắt ngực, theo cổ điển thường xảy ra khi gắng sức và đỡ đau khi nghỉ ngơi .Đây được gọi là cơn đau thắt ngực ổn định mạn tính điển hình như mô tả của Heberden (CSA). Thuật ngữ cơn đau thắt ngực không ổn định (UA) được mô tả đầu tiên bởi Noble O Fowler vào đầu năm 1970. (Cũng được gọi là hội chứng mạch vành trung gian, đau thắt ngực tiền nhồi máu..) và được sử dụng nhiều trong những năm gần đây.

1.  Tất cả các trường hợp đau ngực khi gắng sức ở bất kỳ mức độ nào để có thể là biểu hiện đầu tiên của cơn đau thắt ngực ổn định.

2.  Đau khi nghỉ ngơi > 30 phút không đỡ dù dùng nitroglycerine ngậm dưới lưỡi. 3.Đau ngực sau MI

4.Đau ngực ở những bệnh nhân đã đặt stent qua PCI.

Làm thế nào để nhận biết một bệnh nhân từ đau ngực ổn định sang không ổn định UA? Nghi ngờ UA khi

5.Đau thường xuyên hơn bình thường

6.Đau ngực có khi mức độ đau nhẹ hơn bình thường

7.Đau ngực lan tới vị trí mới (đau lan ra hàm chứ không phải cánh tay trái như bình thường hoặc ngược lại )

Đau thắt ngực là biểu hiện lâm sàng của thiếu máu cục bộ. Cơn đau ngực đầu tiên không thể coi thường, có thể là khởi đầu của bệnh mạn tính hoặc là tắc mạch vành tiến triển trong đau ngực không ổn định / NSTMEI, hay thậm chí là STEMI.

Ngược lại một bệnh nhân đau thắt ngực ổn định mạn tính có đau ngực có thể dự đoán, đau khi gắng sức, đau cùng một chỗ, cùng một kiểu và bệnh nhân biết chắc chắn sẽ hết đau khi dùng nitroglycerine.

Các bệnh lý tiềm ẩn trong UA là gì?

Nói chung hiếm khi mảng xơ vữa ổn định lại gây cơn đau thắt ngực không ổn định. mảng bám không ổn định nghĩa là mảng bám bị xói mòn, nứt, vỡ hoặc tạo huyết khối động.

Các cơn đau thắt ngực khi nghỉ ngơi lại được gọi là cơn đau thắt ngực không ổn định?

Không, bác sĩ tim mạch tin rằng là do cơn đau thắt ngực không ổn định.

các tình huống mà đau thắt ngực ổn định CSA có thể xảy ra lúc nghỉ ngơi?

đau thắt ngực khi stress, sau bữa ăn rất hay gặp ở bệnh nhân CSA, đỡ khi giảm căng thẳng. Một số bệnh nhân CSA trong cơn sốt có thể đau thắt ngực lúc nghỉ ngơi .Đây được coi là biến thể của đau thắt ngực ổn định.

đau thắt ngực sau bữa ăn, có thể xem xét là yếu tố không ổn định


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn