» Câu 11-15 Câu 11-15 – Y học online

Questions of Cardiology

Câu 11-15



Khó thở khi nằm trong suy tim giai đoạn cuối

Trong khi khó thở kịch phát về đêm là một dấu hiệu sớm của suy tim, thì khó thở khi nằm (orthopnea) là một biểu hiện muộn của suy tim. Đây là triệu chứng chủ yếu do phân bố lại thể tích từ tuần hoàn hệ thống sang tuần hoàn phổi khi bệnh nhân nằm.khi siêu âm tim đầu giường, chúng tôi đã phát hiện ra có sự thay đổi theo tư thế trong chức năng tâm trương của thất trái.

Nhiều bệnh nhân đổ đầy thất trái hạn chế khi bệnh nhân nằm. Trong khi ngồi dậy thì lại trở về bình thường . Chứng tỏ thực tế mọi bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thu nặng cũng có rối loạn chức năng tâm trương đáng kể tại một số thời điểm của bệnh

12. Tại sao ngất hiếm khi gây tử vong?

Ngất theo định nghĩa là sự mất ý thức thoáng qua của ý thức do giảm tưới máu não và mất trương lực cơ, bệnh nhân ngã nhưng hồi phục hoàn toàn và tỉnh nhờ hỗ trợ hoặc tự tỉnh. Mạch máu và tim thường không bị ảnh hưởng. Nếu bệnh nhân không hồi phục sau ngất, có thể đây là đột quỵ hoặc anh ta sẽ không bao giờ dậy nữa (ngừng tim đột ngột) . Vì vậy, về mặt định nghĩa, tất cả các bệnh nhân ngất sẽ không thể tử vong.

Có mối liên kết giữa ngất và ngừng tim đột ngột (SCD) ở các bệnh nhân của rối loạn nhịp thất?

Một số trường hợp có hội chứng QT kéo dài có thể gây tử vong đột ngột đặc biệt là ở trẻ em. Một bệnh nhân chức năng VT không ổn định có thể gây ngất. Trong số ít này, có thể tiến triển rung thất và tử vong

Làm thế nào phát hiện ngất trong nhồi máu cơ tim cấp tính?

Ngất vô cùng hiếm gặp trong cơn nhồi máu cơ tim cấp tính.

Ngất là tiền triệu của tai biến mạch não?

Ngất gặp ở bệnh nhân có bệnh lý động mạch cảnh và mạch máu não. Nhưng khi xuất hiện cơn đột quỵ thì không coi đó là ngất

Có nhiều nguyên nhân gây ngất Nhưng đơn giản là

 A.Tim

–    loạn nhịp, chậm hoặc nhanh

–    Cơ học (van tim tắc nghẽn và bệnh liên quan cấu trúc tim khác)

B. Không do tim

Phản xạ phế vị (90% trường hợp ngất)

C. Chuyển hóa Thiếu máu

Hạ đường huyết Thiếu oxy

* Nguyên nhân chuyển hóa cùng với phản xạ phế vị (thần kinh tim) chiếm phần lớn nguyên nhân ngât .

Làm thế nào để tiếp cận một bệnh nhân bị ngất?

Đầu tiên, cần phải xác nhận đây thực sự là ngất. cần hỏi gia đình tiền sử của bệnh nhân

.ngất do tim thường đột ngột, phản xạ phế vị thường có yếu tố môi trường hoặc tình cảm. cần làm ecg, siêu âm tim, holter

Ngất là một trong những triệu chứng phổ biến trong tim mạch và điều trị nói chung. ngất không bao giờ gây tử vong nhưng cần loại trừ nhịp nhanh và nhịp chậm là mục tiêu quan trọng. (20-30%) không xác định các nguyên nhân dù có các công cụ chẩn đoán hiện đại. ngất không rõ nguồn gốc được xếp cùng nhóm liên quan thần kinh tim

Mnemonic

I GET SMASHED

•    I: idiopathic

•    G: gallstones

•    E: ethanol (alcohol)

•    T: trauma

•    S: steroids

•    M: mumps (and other infections) / malignancy

•    A: autoimmune

•    S: scorpion stings/spider bites

 •   H: hyperlipidaemia/hypercalcaemia/hyperparathyroidism (metabolic disorders)

•    E: ERCP

•    D: drugs

13. Có sự liên tục giữa khoang màng phổi và màng ngoài tim?

Màng phổi và màng ngoài tim có cấu trúc giải phẫu tương tự nhau trong lồng ngực.

Cả hai đều chứa nồng độ tối thiểu dịch sinh lý. Người ta thấy có hiện tượng viêm cùng lúc của cả 2 trong viêm thanh mạc hoặc bệnh ác tính. Trong suy tim cũng tràn dịch cả 2 màng do áp lực tĩnh mạch tăng lên.

Nhưng luôn luôn có một mối quan hệ kỳ lạ giữa hai khoang này. Trong thực tế, tràn dịch màng phổi gặp nhiều hơn tràn dịch màng ngoài tim. Dẫn lưu dịch màng phổi giúp giảm bớt dịch màng ngoài tim rất tốt.

Người ta thấy rằng có 1 số kênh bạch huyết thông thương giữa 2 khoang.

14. Cơ chế tiếng cọ màng ngoài tim là gì?

Tim được bao phủ bên ngoài bởi hai lớp màng ngoài tim. khoang màng ngoài tim được hình thành giữa các đỉnh và các lớp nội tạng của màng ngoài tim. Đó là một không gian hẹp mà thường được bôi trơn bằng lớp dịch sinh lý lên đến 25ml. Khi hai bề mặt mô tiếp xúc nhau, báo hiệu bởi tiếng cọ màng ngoài tim. Thường gặp trong viêm, tiếng cọ màng ngoài tim là một dấu hiệu lâm sàng đặc biệt nhưng không thường gặp

Điều kiện lâm sàng thường gặp

Viêm màng ngoài tim cấp tính

Viêm màng ngoài tim do tăng urê huyết. viêm màng ngoài tim do thấp khớp sau nhồi máu cơ tim

–    Màng ngoài tim có hai lớp. Có bốn khả năng xuất hiện tiếng cọ màng ngoài tim.

1.  giữa hai lớp màng ngoài tim

2.  giữa màng ngoài tim lá tạng và lớp thượng tâm vị của trái tim

3.  Giữa đỉnh màng ngoài tim và thành ngực

4.  màng ngoài tim chà xát với màng phổi liền kề

 Các cơ chế thứ hai và thứ ba là rất hiếm.

Vị trí

Bờ xương ức trái, khoang liên sườn 2 hoặc 3. Tốt nhất nghe trong tư thế ngồi, nghiêng về phía trước thì hít vào. Nhiều âm thanh có thể lẫn như s3 hoặc s4.

Cơ chế tiếng cọ màng ngoài tim trong giai đoạn sau nhồi máu cơ tim là gì?

Sự có mặt của tiếng cọ màng ngoài tim sau nhồi máu cơ tim gợi ý có tổn thương xuyên thành tim hoặc ít nhất có tổn thương thượng tâm vị. Dấu hiệu này rất quan trọng vì khi có cọ màng ngoài tim làm tăng nguy cơ vỡ thành và tràn dịch do xuất huyết nếu sử dụng thuốc chống đông.

Mối quan hệ giữa tràn dịch màng tim và tiếng cọ màng ngoài tim là gì?

Nói chung tiếng cọ mất khi xuất hiện tràn dịch màng ngoài tim nhưng điều này chưa hẳn đã đúng. Tiếng cọ sau khi đụng dập ngực và gãy xương sườn có thể không có tràn dịch. Tiếng cọ màng ngoài tim có liên quan với bệnh lý viêm cấp tính gây đau đớn nặng nề (như viêm màng phổi) .Nhưng viêm màng ngoài tim có liên quan với bệnh viêm mạn tính ít khi gây đau. lý do chính xác chưa được biết.

Tiếng cọ màng phổi- màng tim là gì?

Thực thể lâm sàng này vẫn chưa được xác định, thường được giảng dạy bởi các giáo sư kỳ cựu trong lâm sàng nghe tim. Có thể nghe thấy trong viêm màng phổi ở đoạn giữa vòm hoành hoặc không có tràn dịch màng ngoài tim ở bệnh nhân viêm phổi không điển hình.

15. Amlodipin chống đau thắt ngực

Amlodipin là thuốc chống tăng huyết áp phổ biến nhất được sử dụng trên toàn thế giới có tác động rất lớn đến lưu lượng máu qua động mạch vành. 3 thập kỉ trước đây nifedipine đã được biết đến với đặc tính chống đau thắt ngực cực kì hiệu quả. Sau đó amlodipine đã được giới thiệu với các tác dụng gần như tương tự. Nhưng trong những năm qua, amlodipin được dùng chủ yếu như thuốc chống tăng huyết áp và dần dần nhiều bác sĩ tin rằng nó chỉ là một loại thuốc dùng nếu huyết áp tăng cao.Trong thực tế, các bác sĩ nói chung hiện nay khi được hỏi về amlodipine thì không ai thừa nhận từng thuốc này như một loại thuốc chống đau thắt ngực. Và vài người trong số họ đã rút amlodipine khi bệnh nhân có đau thắt ngực!

Tại sao tác dụng chống đau thắt ngực của amlodipin lại ảm đạm không ai dùng vậy? Câu trả lời là quá đáng tiếc! nhiều phác đồ chính thống trong tim mạch đã bỏ qua thuốc cực kì đặc biệt này. Amlodipin, vẫn có thể được sử dụng như một loại thuốc chống đau thắt ngực đặc biệt ở bệnh nhân đau thắt ngực kèm nhịp chậm, rối loạn chức năng thất trái đáng kể. Amlodipine và nifedipine còn dùng trong đau thắt ngực do co thắt mạch máu mà chống chỉ định dùng chẹn beta.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn