» Sốt Sốt – Y học online

On Call Principles and Protocols

Sốt



Thật là bất thường khi cả một đêm được gọi hội chẩn mà không bị gọi hội chẩn về bệnh nhân sốt. Đa số những bệnh nhân nội trú trong bệnh viện bị sốt do nhiễm trùng. Việc tìm ra nguyên nhân của sốt thường cần một quá trình khám xét nhất định. Liệu các nguyên nhân gây sốt có cần thiết điều trị đặc hiệu ngay lập tức dựa trên cả tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và chẩn đoán nghi ngờ .
Gọi điện
Câu hỏi
1.Nhiệt độ của bệnh nhân là bao nhiêu?, đo tại vị trí nào?
( 37o C đường miệng =37.5oC trực tràng hoặc 36.5 ở nách)

Các chỉ số sinh tồn khác của bệnh nhân?
3.Bệnh nhân có các triệu chứng khác đi kèm hay không?
Triêu chứng đau có thể giúp định khu vị trí nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm. Đau đầu, đau cứng cổ,co giật, thay đổi tính nhạy cảm ( ánh sáng, tiếng động..), đi kèm với sốt có thể gợi ý đến viêm màng não hoặc viêm não

Sốt có phải mới xuất hiện không?
5.Tại sao bệnh nhân phải nhập viện?
6.Bệnh nhân có vừa trải qua một cuộc phẫu thuật gần đây ?
Sốt sau phẫu thuật thường hay gặp , nó có thể là hệ quả của xẹp phổi, viêm phổi, thuyên tắc phổi, nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng vị trí đặt đường truyền, nhiễm trùng tiểu do đặt sonde Foley.
Đề nghị

Nếu bệnh nhân có sốt và huyết áp hạ, bổ sung 500ml nước muối sinh lý tĩnh mạch, càng nhanh càng tốt.

Nếu bệnh nhân sốt kèm theo các triệu chứng của viêm màng não như ( đau đầu, cứng gáy, co giật, tăng nhạy cảm)… đề nghị chọc ống sống thắt lưug tại giường ngay.
Thông báo cho y tá tiếp nhận
Bảo với điều dưỡng trực rằng ‘ tôi sẽ đến bên giường bệnh trong…. Phút’. Việc tăng thân nhiệt đơn thuần hiếm khi đe dọa đến tính mạng bệnh nhân. Tuy nhiên, nếu tăng thân nhiệt đi kèm với tụt huyết áp hoặc các triệu chứng của viêm màng não, bạn cần đến xem bệnh nhân ngay lập tức.
Đặt vấn đề
Sốt do nguyên nhân gì?
Nhiễm khuẩn là nguyên nhân phổ biến nhất gây sốt với các bệnh nhân nội trú. Vị trí nhiễm trùng thường gặp là phổi, đường tiểu, vết thương, đường truyền tĩnh mạch. Vị trí nhiễm trùng ít gặp hơn là hệ thần kinh trung ương, cơ quan ổ bụng, vùng chậu. Với những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch không chỉ dễ bị nhiễm khuẩn mà còn hay gặp những biến chứng nguy hiểm của nhiễm trùng.
Một số nguyên nhân gây sốt khác như:
 Thuyên tắc phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu
 Tác dụng của thuốc điều trị
 Khối u, ung thư
 Bệnh tổ chức liên kết
 Xẹp phổi sau phẫu thuật
Dấu hiệu chính đe dọa tính mạng
 Sốc nhiễm khuẩn
 Viêm màng não
Đối với những bệnh nhân điều trị nội trú, sốt thường là triệu chứng báo hiệu của nhiễm trùng. Hầu hết nhiễm trùng có thể được kiểm soát bởi phản ứng miễn dịch của cơ thể và sử dụng kháng sinh thích hợp. Nhiễm trùng tại bất kỳ vị trí nào, nếu tiến triển, có thể dẫn đến nhiễm khuẩn huyết kèm theo sốc nhiễm khuẩn. Viêm màng não, do đặc tính tại vị trí ảnh hưởng của nó, có thể gây tổn thương thần kinh vĩnh viễn hoặc chết nếu không được điều trị.
Khám đầu giường
Đánh giá nhanh:
Bệnh nhân nhìn có trong tình trạng thoải mái không?, hay khó chịu, mệt mỏi, hoặc nguy kịch( có thể dẫn đến tử vong)?
Các dấu hiệu nhiễm độc như lo lắng, hốt hoảng ,kích thích vật vã, thờ ơ li bì.. gợi ý tình trạng nhiễm trùng nguy hiểm.
LƯU THÔNG ĐƯỜNG THỞ VÀ CÁC CHỈ SỐ SINH TỒN
Nhịp tim của bệnh nhân?
Mạch nhanh, tương ứng với sự tăng thân nhiệt, thường thấy ở những bệnh nhân sốt. Bình thường, nhịp tim tăng lên khoảng 16l/p khi thân nhiệt tăng 1oC. Khi sốt mà nhịp tim chậm có thể viêm phổi Legionella, viêm phổi Mycoplasma pneumoniae , viêm đường mật, sốt thương hàn, hoặc plasmodium falciparum có huyết tán nặng.
Huyết áp của bệnh nhân?
Sốt kết hợp với hạ huyết áp khi nằm hoặc thay đổi tư thế thường là dấu hiệu của giảm khối lượng tuần hoàn tương đối, báo trước cho tình trạng sốc nhiễm khuẩn. Cần đảm bảo đường truyền tĩnh mạch được đặt. Bù dịch bằng NS 0.9% hoặc RL để bù đắp thể tích nội mạch thiếu hụt .
Khám thực thể chọn lọc I
Tình trạng thể tích? Bệnh nhân có shock nhiễm khuẩn không? Các dấu hiệu của viêm màng não?

Sốc nhiễm trùng là môt tình trạng lâm sàng bao gồm 2 trạng thái. Giai đoạn sớm , bệnh nhân có thể ấm, khô, đỏ bừng, bởi sự giãn mạch ngoại vi và tăng cung lượng tim (sốc ấm). Nếu sốc nhiễm khuẩn tiếp tục tiến triển, bệnh nhân sẽ có triệu chứng hạ huyết áp, và da trở nên lạnh và nhớp nháp (sốc lạnh) do hậu quả co mạch ngoại vi. Chậm trễ trong điều trị có thể do không đánh giá đúng các dấu hiệu ban đầu và có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng ..
Sốt ở một bệnh nhân cao tuổi, bất kể nguyên nhân, có thể tạo ra những thay đổi trong phản ứng ban đầu , từ thờ ơ đến kích động. Nếu vị trí cụ thể của nhiễm trùng là không rõ, có thể tiến hành chọc ống sống thắt lưng để kiểm tra xem có viêm màng não hay không? (see page 102)
Xử trí
Các biện pháp nào cần thực hiện ngay để ngăn ngừa sốc nhiễm trùng hoặc nhận biết được viêm màng não?
Sốc nhiễm trùng
Nếu bệnh nhân có sốt và tụt huyết áp, cần đánh giá tình trạng thể tích, các chỉ số sống,; nếu có giảm thể tích ,tiến hành bù dịch tĩnh mạch ( NS 0.9%, RL) nhanh chóng cho đến khi nó về bình thường.
Thận trọng: Sự quá tải dịch ở bệnh nhân có tiền sử suy tim sung huyết (CHF) có thể làm tổn thương chức năng tim. Mục tiêu bù dịch không vượt quá mức.
Trong khi tiến hành hồi sức dịch thể, tiến hành lấy những mẫu xét nghiệm cần thiết để nuôi cấy, thường là mẫu máu tại 2 vị trí khác nhau, mẫu nước tiểu ( nhuộm Gram , nuối cấy định danh), đờm, và bất kỳ dịch thể nào khác nghi ngờ.
Sốc nhiễm khuẩn là nguyên nhân chính đe dọa tính mạng bệnh nhân, một khi đã lấy mẫu nuôi cấy xong, cần tiến hành sử dụng kháng sinh bao phủ được cả Gram âm và Gram dương. Lựa chọn kháng sinh nào là phụ thuộc vào kiến thức về sự nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh tại từng vị trí, cơ quan trong cơ thể. Nhiều tổ chức y khoa cũng đã đưa ra các hướng dẫn điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm, đặc biệt là ở những bệnh nhân bị giảm bạch cầu. Một liệu trình phổ rộng theo kinh nghiệm phổ biến gồm 1 cephalosporin thể hệ 3 hoặc 4(ceftriaxone or cefepime) và 1 aminoglycoside (gentamicin, tobramycin, or amikacin). Sử dụng thay thế cho các cephalosporin là piperacillin/tazobactam and imipenem. Nếu nghi ngờ là tụ cầu vàng kháng methicillin cần bắt đầu điều trị với ceftaroline or vancomycin.
Một số bệnh nhân bị dị ứng với penicillin. Đảm bảo rằng bệnh nhân không bị dị ứng trước khi bạn đề nghị dùng penicillin hoặc cephalosporin. Aminoglycosides thường gây độc tính trên thận và độc tính trên tai. Chọn khoảng liều duy trì dựa vào độ thanh thải creatinine được tính của bệnh nhân. Theo dõi nồng độ aminoglycoside trong huyết thanh và nồng độ creatinin huyết thanh, thường sau khi sử dụng liều thứ 3 , 4.
Nếu lượng dich thể đủ mà bệnh nhân vẫn tụt huyết áp, cần chuyển bệnh nhân xuống ICU/CCU, để hỗ trợ vận mạch hoặc cường tim. Ở những bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, cần đặt sonde tiểu để theo dõi lượng nước tiểu liên tục.
Viêm màng não
Sốt kèm theo đau đầu, co giật, cứng cổ hoặc tăng nhạy cảm là được coi là viêm màng não cho đến khi chứng minh được do nguyên nhân khác.
Chọc dò thắt lưng nên được tiến hành ngay không được trì hoãn để phục vụ chẩn đoán và có hướng điều trị kháng sinh thích hợp. Thủ thuật này không nên được thực hiện nếu như trên bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng của thần kinh khu trú hoặc các dấu hiệu của tăng áp lực nội sọ như phù gai thị, hôn mê, hô hấp không đều, nhịp tim chậm, hoặc tư thế duỗi cứng mất não. Chống chỉ định khác của chọc dò là rối loạn đông máu, bởi vì nguy cơ hình thành tụ máu trong ống sống có thể dẫn đền đè ép tủy.
Trong viêm màng não do vi khuẩn, bạch cầu trong dịch não tủy thường tăng (số lượng tế bào > 109/L) , nồng độ protein > 0.4g/l, glucose máu giảm 2mmol/l. Tuy nhiên những thay đổi này có thể không xuất hiện khi bệnh ở giai đoạn sớm. Mẫu nhuộm gram kết quả dương tính ở 80% bệnh nhân không được điều trị bằng kháng sinh trước đó. Với những bệnh nhân đã được điều trị một phần trước đó bằng kháng sinh, phương pháp ngưng kết latex rất hữu ích trong việc phát hiện kháng nguyên vi khuẩn, nhưng không thực sự tin cậy để phát hiện kháng nguyên viêm màng não cầu nhóm B.
Nếu chưa thể soi đáy mắt, hoặc có những dấu hiệu như phù gai thi, dấu hiệu tổn thương thần kinh khu trú (gợi ý là một tổn thương dạng khối chèn ép), sử dụng ngay liều kháng sinh đầu tiên, tiến hành chụp CT scanner sọ não cấp cứu để xác định, hoặc loại trừ những thương tổn chiếm chỗ trước khi tiến hành chọc dò tủy sống. Trong trường hợp có tổn thương chiếm chỗ không gian nội sọ, chọc dò ống sống có thể gây ra thoát vị não, hoặc đè ép thân não.
Nghiên cứu hồ sơ chọn lọc
Nếu bệnh nhân không bị sốc nhiễm khuẩn hay không có các dấu hiệu của việm màng não, tiến hành nghiên cứu hồ sơ chọn lọc, tìm kiếm những manh mối định vị (Table 12.1). Cũng có thể kiểm tra theo những nội dung sau:
 Kiểu nhiệt độ suốt trong quá trình ở bệnh viện
 Bạch cầu và các chỉ số công thức máu gần đây
 Bằng chứng chứng minh suy giảm miễn dịch( nếu có) : hóa trị ung thư, bệnh máu ác tính, HIV, giảm TCd4

CHF, Suy tim sung huyết; IV, tiêm TM; LLL: bụng dưới trái; LLQ: ¼ bụng dưới bên trái; LUQ: ¼ bụng trên bên trái; RLL: bụng dưới bên phải; RLQ: bụng trên bên phải ; RUQ: ¼ bụng trên bên phải; TPN: dinh dưỡng hoàn toàn đường tĩnh mạch
• Dị ứng kháng sinh
• Các nguyên nhân khác có thể của sốt (ví dụ: bệnh mô liên kết, ung thư)
• Thuốc hạ sốt, thuốc kháng sinh, hoặc steroid có thể thay đổi tình trạng sốt
Thăm khám chọn lọc II
Xác định các dấu hiệu và triệu chứng để định vị trí đã được ghi chép trong bảng trên

Xử trí II
Nếu sốt không rõ nguyên nhân (nhiệt độ đo miệng> 38,5 ° C), xuất hiện, tăng lên trong bệnh viện, các xét nghiệm sau đây cần được thực hiện
Hình 12. 1 Roth spots.
Tổn thương võng mạc xuất huyết hình tròn hoặc hình bầu dục với nhạt ở trung tâm ( Roth spots

Cấy máu ngay lấy từ 2 vị trí khác nhau
• xét nghiệm nước tiểu ( thông thường và soi kính hiển vi),nuôi cấy nước tiểu
• công thức máu
Tùy theo tình trạng, việc chỉ định xét nghiêm sẽ dựa trên việc thăm khám, xác định định khu tổn thương, đối chiếu vào bảng đánh giá, tiền sử và khám thực thể. Ví dụ
• lấy dịch họng để nhuộm Gram và nuôi cấy
• Lấy đờm để nhộm Gram và nuôi cấy
• XQ ngực
• Chọc dò tủy sống
• Cấy máu trong trường hợp Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (tham khảo quy trình thực hành của bạn)
• cấy dịch âm đạo (có dụng cụ đặc biệt để phân lập gonococcal trước khi bạn thực hiện khám vùng chậu)
• Chọc dịch khớp
• Lấy bệnh phẩm từ các vết loét tỳ đè hoặc từ dẫn lưu các vế thương nhiễm trùng để nhuộm Gram và nuôi cấy
• lấy dịch tiết từ vùng tổn thương kiểm tra bằng kính hiển vi ngay lập tức để lựa chọn thuốc kháng sinh . Rút các đường truyền tĩnh mạch nghi ngờ nhiễm khuẩn, đặt đường truyền mới. Việc dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch trung tâm (TPN) có thể là yếu tố thuận lợi cho nhiễm trùng, vì vậy nên được tham khảo ý kiến từ các chuyên gia. Đầu của catheter nên được gửi đến phòng thí nghiệm để nuôi cấy.
Nếu có nhiễm khuẩn niệu trên bệnh nhân còn sonde foley, rút bỏ sonde. Một vài ngày không kiểm soát nước tiểu là một khó chịu cho nhân viên điều dưỡng nhưng không gây hại cho bệnh nhân nếu không có loét da đáy chậu xảy ra. Một ngoại lệ cho tình trạng này là khi một ống thông Foley được đặt để điều trị ứ nước tiểu, vì ứ nước tiểu làm cho bệnh nhân bị nhiễm trùng
Kháng sinh phổ rộng
Ba loại bệnh nhân cần kháng sinh phổ rộng ngay lập tức:

Bệnh nhân bị sốt và hạ huyết áp (see page 101-102).

Bệnh nhân bị sốt và giảm bạch cầu (bạch cầu N <500/mm3 or <1000/mm3 and đang giảm) trên những BN chưa xác định được định khu nhiễm khuẩn. Dự kiến biến cố này ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch (e.g hóa trị ung thư) và có sự thống nhất điều trị với các nhà huyết học, chuyên gia ung bướu trước đó.

Một bệnh nhân sốt, có triệu chứng nhiễm độc và bệnh cấp tính, và nghi ngờ bị nhiễm trùng mặc dù không có bằng chứng về một nguồn rõ ràng
Thao tác tối thiểu cần thực hiện:
• Cấy máu
Mặc dù tỉ lệ mọc vi khuẩn của các mẫu máu thấp để chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết, nhưng chúng rất có giá trị khi cấy máu dương tính . Tốt nhất,cần lấy hai lọ 20 ml máu từ hai vị trí tĩnh mạch riêng biệt tại các vị trí khác nhau. Kỹ thuật này giúp giảm ô nhiễm và tỷ lệ kết quả dương tính giả.
• Xét nghiệm nước tiểu và nuôi cấy
• Nhuộm Gram và cấy đờm
• XQ ngực
Việc lựa chọn các kháng sinh ban đầu nên dựa trên vị trí hoặc nguồn nhiễm trùng có khả năng nhất, các sinh vật gây bệnh có khả năng nhất, và sự nhạy kháng sinh của chủng vi khuẩn. Cần có sự lựa chọn thích hợp dựa trên sự sẵn có và phù hợp của tùng loại kháng sinh. Nên sử dụng nhiều hơn 1 loại kháng sinh. Các lựa chọn phổ biến bao gồm cephalosporin thế hệ thứ ba hoặc thứ tư hoặc penicillin phổ rộng và một aminoglycoside. Tuy vậy,nhiễm trùng đường tiêu hóa hoặc nhiễm trùng vùng tầng sinh môn ở nữ giới cần sử dụng kháng sinh diệt vi khuẩn kỵ khí (e.g., metronidazole), và nhiễm trùng trong một thiết bị nội mạch hoặc van tim nhân tạo đòi hỏi sử dụng kháng sinh có hiệu quả chống lại staphylococcus kháng methicillin (e.g., vancomycin hoặc glycopeptide khác chẳng hạn như teicoplanin hoặc chế phẩm lipopeptide, daptomycin).
Kháng sinh đặc hiệu
Hai loại bệnh nhân cần thuốc kháng sinh đặc hiệu ngay lập tức

Một bệnh nhân bị sốt và các triệu chứng viêm màng não cần thuốc kháng sinh ngay lập tức sau khi chọc dò tủy sống . Tuy nhiên, không trì hoãn điều trị kháng sinh ban đầu nếu chụp CT sọ não cần phải được thực hiện để kiểm tra trước khi chọc dò tủy sống (see page 102-103).

Một bệnh nhân bị sốt và xác định được vị trí nhiễm khuẩn rõ ràng phải được sử dụng kháng sinh đặc hiệu sau khi đã lấy bệnh phẩm nuôi cấy. Đối với bệnh nhân tiểu đường, điều trị kháng sinh cần được tiến hành sớm, nhanh chóng.
Không sử dụng kháng sinh đến khi có chẩn đoán vi sinh vật cụ thể.
Một bệnh nhân có vẻ không bị bệnh, là người có khả năng đề kháng, thể trạng tốt, nguyên nhân sốt không rõ ràng (VD một bệnh nhân nhập viện để giải quyết sốt không rõ nguyên nhân) , không nên sử dụng kháng sinh cho đến khi có chẩn đoán cụ thể bằng chứng nhiễm khuẩn
Lựa chọn kháng sinh
Thật không may, các vi sinh vật gây bệnh có thể phát triển đề kháng với kháng sinh, và việc sử dụng kháng sinh phổ biến là kích thích sự phát triển của các chủng kháng thuốc này. Việc lựa chọn thuốc kháng sinh cụ thể phụ thuộc vào sự hiểu biết về hệ vi sinh vật tại vị trí và tính nhạy cảm kháng sinh của chúng đối với từng loại kháng sinh . Hầu hết thuốc kháng sinh tiêm đều đắt tiền. Vì vậy, nên có hướng dẫn sử dụng kháng sinh để giảm thiểu sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc và kiểm soát chi phí.
Sốt trong bệnh nhân suy giảm miễn dịch ở người ,HIV dương tính
Ở bệnh nhân nhiễm HIV, sốt thường do nhiễm trùng hoặc ung thư hạch Ở những bệnh nhân này, sốt được cho là do nhiễm trùng cho đến khi được chứng minh có nguyên nhân khác. Thỉnh thoảng, không tìm thấy nguyên nhân cụ thể của sốt. Trong trường hợp này, sốt có thể do chính virus HIV gây ra, nhưng chẩn đoán này nên được coi là một phương án loại trừ.
Mặc dù bệnh nhân HIV dương tính dễ bị nhiễm trùng thường gặp , một số tác nhân gây bệnh cơ hội cần được xem xét . Các sinh vật gây bệnh có thể nhận biết, tùy thuộc vào hệ thống cơ quan liên quan ở một bệnh
nhân như vậy (Table 12.2). Ở những bệnh nhân HIV dương tính, nhiều hơn bất kỳ một quần thể bệnh nhân nào khác, thường bội nhiễm nhiều loại tác nhân cùng lúc.
Ghi nhớ

Một bệnh nhân suy giảm miễn dịch đặc biệt dễ bị nhiễm trùng và dễ bị biến chứng. Bạn không nên ngần ngại tham khảo ý kến của các chuyên gia

Định nghĩa về sốt không rõ nguồn gốc là nhiệt độ cao hơn 38,3 ° C trong 3 tuần mà không tìm thấy nguyên nhân mặc dù đã được kiểm tra kỹ trong bệnh viện trong 1 tuần.

Sốt do khối u, bệnh mô liên kết, hoặc phản ứng với thuốc là một chẩn đoán chỉ nên được thực hiện sau khi bạn loại trừ sốt do nhiễm trùng.

Sốt có thể do sử dụng thuốc theo đơn hoặc không theo đơn.
Ngay cả những loại thuốc thường dùng như thuốc kháng sinh cũng có thể gây sốt do thuốc , thường xảy ra trong vòng 7 ngày sau khi bệnh nhân bắt đầu dùng thuốc. Thuốc chống loạn thần có thể gây hội chứng thần kinh ác tính, đặc trưng bởi sốt, tăng trương lực cơ, thay đổi tính nhạy cảm, Nhịp tim nhanh, tăng creatine phosphokinase, số lượng bạch cầu, and men gan. Các triệu chứng sẽ giải quyết khi ngừng thuốc.
Quá liều một số chất kích thích,như amphetamines and cocaine, có thể tăng nhiệt độ cấp tính, dẫn đến tiêu cơ vân và góp phần gây rối loạn nhịp tim gây tử vong. Làm mát nhanh chóng, việc sử dụng thuốc hạ sốt và sử dụng thuốc an thần thận trọng có thể được chỉ định trong trường hợp này.

Bằng cách sử dụng thuốc hạ sốt cho sốt do nhiễm trùng, bạn chỉ điều trị triệu chứng. Trên thực tế, có bằng chứng cho rằng đáp ứng sốt là cơ chế thích nghi của cơ thể nhằm ức chế sự sao chép của vi khuẩn và tăng cường khả năng của các đại thực bào để tiêu diệt vi khuẩn. Thật hữu ích khi quan sát kiểu sốt, và nếu sốt không phải là rất cao (> 40 ° C) và bệnh nhân không khó chịu, không cần thiết để điều trị bằng aspirin hoặc acetaminophen.

Nếu dùng thuốc hạ sốt, hãy yêu cầu RN đánh dấu biểu đồ nhiệt độ tại giường bằng một mũi tên để đánh dấu thời gian dùng thuốc. Đánh giá đáp ứng điều trị cũng được thực hiện dễ dàng hơn bằng cách biểu đồ sử dụng kháng sinh được lập (Fig. 12.2).

Steroid có thể làm tăng số lượng bạch cầu và ngăn chặn phản ứng sốt, bất kể nguyên nhân. Việc hạ sốt bằng steroid cần được sử dụng một cách thận trọng

  1. Vi sinh vật thường bị thu hút đến các dị vật. Tìm kiếm các dị vật tại các vị trí nhiễm trùng như: đường truyền TM, Foley catheters, shunt não thất – ổ bụng, khớp giả, catheter thẩm phân phúc mạc, và van tim sinh học hoặc kim loại
  2. Sốt xảy ra trong khi bệnh nhân đã dùng thuốc kháng sinh có thể do:
    • Sử dụng kháng sinh không phù hợp.
    • Không đủ liều kháng sinh.
    • Không điều trị đúng vi sinh vật hoặc các chủng VSV kháng thuốc hoặc có bội nhiễm.
    • Kháng sinh không đến được ổ nhiễm khuẩn (e.g., abscess thành dày phải phẫu thuật dẫn lưu).
    • Sốt có thể không do nhiễm trùng.
  3. Sảng rượu cũng có thể gây sốt nghiêm trọng ở những bệnh nhân cai rượu. có biểu hiện loạn thần, bao gồm ảo tưởng và ảo giác; kích động; co giật; tăng các hoạt động không chủ ý , sốt, nhịp tim nhanh và đổ mồ hôi. Tình trạng này đôi khi gây tử vong và cần liều cao benzodiazepin để ổn định bệnh nhâ (see page 70).
    Reference
    Rivera A.M, Boucher H.W. Current concepts in antimicrobial therapy against select Gram-positive organisms: Methicillin-resistant Staphylococcus aureus, penicillin-resistant pneumococci, and vancomycin-resistant enterococci. Mayo Clinic Proceedings. 2011;86(12):1230–1243.

Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn