» Kích động Kích động – Y học online

On Call Principles and Protocols

Kích động



Bệnh nhân khó kiểm soát

Bạn bị y tá sang gọi 1 cách bực bội vì gặp bệnh nhân vượt ngoài tầm kiểm soát. “Không kiểm soát được” không đề cập đến tinh thần nóng nảy hoặc không hợp tác; mà nó là thái độ thù địch ở những bệnh nhân có mối đe dọa về thể chất cho chính họ, các bệnh nhân khác hoặc nhân viên bệnh viện. Công việc của bạn là xác định các nguyên nhân, nếu có, có ảnh hưởng đến hành vi của bệnh nhân để điều trị thích hợp. Nói chung, khống chế bệnh nhân chỉ nên sử dụng như là phương án cuối cùng. Để quyết định có nên kiềm chế bệnh nhân hay không, bạn phải chắc chắn rằng những biện pháp can thiệp khác sẽ không có hiệu quả.

Cuộc gọi

Câu hỏi

1.   Tại sao bệnh nhân vào viện?

2.   Bệnh nhân đang dùng thuốc gì?

3.   Có lí do rõ ràng cho tình trạng kích động của bệnh nhân?

4.   Những biện pháp nào đã sử dụng để giữ bình tĩnh cho bệnh nhân?

5.   Nhân viên y tế nào sẵn sàng giúp bạn bây giờ?

6.   Chiều cao và cân nặng của bênh nhân?

Đề nghị

1.   Bảo điều dưỡng tiếp nhận gọi bảo vệ bệnh viện ngay lập tức. công việc của bạn không phải vội chạy sang mà giúp giữ bệnh nhân mà bạn phải xác định nguyên nhân hành vi và xử trí thích hợp cho bệnh nhân

2.   Thông thường, cho bệnh nhân haloperidol, 0.5 to 10 mg uống(PO), tiêm bắp (IM), (IV). bệnh nhân cao tuổi dùng liều thấp hơn 0.25 to 0.5 mg. thời điểm y tá gọi bạn, thường họ đã vật lộn với bệnh nhân 10-20 phút.

Báo cho điều dưỡng

“tôi sẽ tới ngay sau …. phút.”

Bệnh nhân không kiểm soát được cần bạn đến ngay lập tức

Suy nghĩ

Nguyên nhân gây ra hành vi kích động, hiếu chiến?

Bất cứ trạng thái lú lẫn nào do thuốc hay rối loạn tâm thần cấp hoặc mạn đều có thể gây ra tình trạng kích động và hiếu chiến. nó thể hiện quá trình phản ứng từ trước thời kỳ phát bệnh. tình trạng kích động hay gặp ở bệnh nhân trẻ, cảm thấy nản lòng, chán với việc điều trị và do áp lực của bệnh cũng như trong môi trường bệnh viện. dạng thứ 2 ở bệnh nhân không kiểm soát được là bệnh nhân cao tuổi trở nên kích động và mất phương hướng, đặc biệt là về đêm (hội chứng mặt trời lặn).

Nhiều bệnh lý khác cũng có thể gây tình trạng kích động ở bệnh nhân nằm viện như bệnh nội sọ,  rối loạn hệ thống (thuốc, suy tạng, rối loạn chuyển hóa và nội tiết, nhiễm khuẩn, viêm), và rối loạn tâm thần. khi bệnh nhân đã an toàn, bạn nên đánh giá cẩn thận các nguyên nhân trên (see Chapter 8, pages 66-67).

  • Đe dọa tính mạng

Tổn thương thân thể

Bệnh nhân bị kích động có thể sẽ giựt dây truyền tĩnh mạch, sonde dạ dày hay foley niệu đạo. bệnh nhân không quan tâm tới an toàn của mình có thể gây thêm tổn thương mới

Tại giường

Đánh giá nhanh

Trông bệnh nhân khỏe, yếu hay nặng (nguy cơ tử vong)?

Bệnh nhân kích động sẵn sàng chiến đấu. hãy đứng phía sau lưng và theo dõi tình hình, quan sát bệnh nhân. bạn phải đánh giá mức độ nguy hiểm của bệnh nhân, cần làm bệnh nhân bình tĩnh và giành lại quyền kiểm soát. tìm dấu hiệu hay triệu chứng cần phải điều trị đặc hiệu:

•    Bệnh nhân tím tái hay khó thở (như trong thiếu oxy máu)?

•    Bệnh nhân có xuất hiện ảo giác (do ngộ độc thuốc hoặc hội chứng cai)?

•    Bệnh nhân có đau?

Xử trí

Ưu tiên phải giữ cho bệnh nhân bình tĩnh và giành quyền kiểm soát tình huống. trường hợp này, nguyên tắc đầu tiên là bạn phải giữ bình tĩnh. không cần phải nhảy vào xung đột, bạn bạn nghĩ đến những biện pháp hiệu quả hơn trong tình huống này

1.   Nhiều bệnh nhân sẽ bình tĩnh hơn khi bác sĩ đến, họ sẽ cảm thấy bớt cô độc và dễ kiểm soát hơn nếu có mặt bác sĩ ở đó. bạn có 30s để phán đoán trong trường hợp này nếu bệnh nhân không cho phép bạn tiếp cận họ vì đang kích động, bệnh nhân cần được khống chế trong khi xử trí thuốc. tiếp tục giữ bệnh nhân tới khi thuốc có hiệu quả. nếu bạn phải dùng thuốc cho bệnh nhân nên có người giữ tay chân nếu bệnh nhân đã dùng haloperidol mà vẫn không kiểm soát được, cần dùng biện pháp kềm chế tới khi thuốc có tác dụng. nếu vẫn kích động sau 30 phút dùng thuốc, bạn có thể thêm liều haloperidol, 0.5 – 10 mg. lặp lại liều này mỗi 2 – 4 h, tới tổng liều 20 mg trong 24 hours. người cao tuổi hiếm khi cần tổng liều hơn 5mg. thường sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả.

    2 tác dụng phụ cấp của haloperidol là tụt huyết áp và cơn loạn trương lực cấp (co cơ mặt, lưỡi, lưng, cổ). tụt áp thường sau thay đổi tư thế, khi bệnh nhân hợp tác nên hỗ trợ cho họ từ nằm sang tư thế ngồi thẳng dậy. cơn loạn trương lực cấp thường đáp ứng với diphenhydramine, 25 – 50 mg PO, IM, or IV, or benztropine mesylate, 1 to 2 mg PO, IM, or IV. 1 vài thuốc chống loạn thần mới như risperidone (0.5 to 2 mg PO bid) và olanzapine (2.5 to 5.0 mg PO daily or 10 mg IM) ít tác dụng phụ ngoại tháp hơn haloperidol mà hiệu quả tương tự

2.   Một số bệnh nhân không thể làm họ bình tĩnh được. bạn phải cố gắng giải thích và làm cho bệnh nhân cảm thấy bạn đang cố làm họ tốt hơn.

3.   Benzodiazepines (e.g., lorazepam, 0.5 to 2.0 mg PO, sublingually [SL], IM, or IV) có thời gian khởi phát nhanh hơn thuốc chống loạn thần nhưng gây lú lẫn nặng hơn. nó là thuốc đầu tay trong điều trị hội chứng cai rượu và thuốc an thần

4.   Barbiturates nên tránh, mặc dù có tác dụng an thần nhưng nó có thể gây rối loạn hành vi

5.   Gọi cho gia đình bệnh nhân, giải thích vấn đề xảy ra để xem có làm sáng tỏ được vấn đề hành vi của bệnh nhân hay không. Nếu có kềm chế bằng trói cổ tay và cổ chân bệnh nhân, hãy thông báo và trấn an gia đình đây chỉ là biện pháp tạm thời. nhấn mạnh rằng biện pháp này giúp bệnh nhân tránh khỏi bị thương. đừng để gia đình bệnh nhân bất ngờ khi thấy các bạn trói người thân của họ và buộc vào giường

6.   Khi qua cơn kích động, cần tìm nguyên nhân và đánh giá kỹ (xem Chương 8). khi bệnh nhân đã an toàn, bạn nên khám trực tiếp tìm các nguyên nhân đe dọa tính mạng có thể xử trí được (xem trang 68-71).


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn