» Sơ Đồ Chuẩn để Đọc ECG Sơ Đồ Chuẩn để Đọc ECG – Y học online

Mẹo đọc ECG

Sơ Đồ Chuẩn để Đọc ECG



ĐỌC ECG NHỊP NHANH THẤT

Quá trình đọc một ECG chuẩn được bắt đầu bằng cách xác định ba thành phần sau đây.

  1. Chỉ trong trường hợp nhịp xoang thì các tiêu chuẩn đánh gia sóng P mới áp dụng được. Chỉ khi nào kích thích có nguồn gốc trên thất thì các tiêu chuẩn của QRS, đoạn ST và sóng T bình thường mới được áp dụng đúng.
  2. Loại nhịp thường gặp thứ hai, sau nhịp xoang đều đặn nhưng có thay đổi theo nhịp hô hấp, là rung nhĩ gây loạn nhịp hoàn toàn.
  3. Tần số tim có nằm trong giới hạn bình thường từ 50 đến 100 lần phút hay không? Nếu tần số nằm ngoài giới hạn bình thường thì cần phải được làm rõ về mặt nguyên nhân/điện học (rối loạn nhịp nhanh hay rối loạn nhịp chậm?).
  4. Tư thể tim phải tương ứng với tuổi bệnh nhân. Khoảng bình thường của vector chính ở người trưởng thành là từ +90° đến -30°. Tư thể tim sẽ xoay sang trái theo sự tăng dần của tuổi tác: ở thanh thiếu niên là tư thế đứng còn ở người già thì tư thể thường lệch trái. Tất cả những bất thường về tư thế tim cần được làm rõ về mặt lâm sàng và điện tim.
  5. Khảo sát đoạn PQ. Nếu PQ < 120 ms thì cần phải loại trừ hội chứng tiền kích thích do đường dẫn truyền phụ. Hội chứng tiền kích thích biểu hiện bằng PQ ngắn, sóng delta và biến đổi đoạn ST. Nếu có sự hiện diện của hội chứng tiền kích thích thì các tiêu chuẩn bình thường của QRS, đoạn ST và sóng T không còn đúng nữa.
  6. Sóng P: Chiều cao của sóng P không được vượt quá 2,5 mm và độ rộng không được quá 100 ms trên chuyển đạo II. Diện tích của phần thứ hai âm của sóng P ở V1 không được lớn hơn phần thứ nhất dương.
  7. Thời gian phức bộ ORS; không được quá 100 ms. Trong trường hợp chủ nhịp trên thất mà QRS = 120 ms thì đây là trường hợp block nhánh hoàn toàn. Khi QRS từ 105 đến 114 ms thì đây là block không hoàn toàn, block phân nhánh.
  8. Hình thái của QRS ở các chuyến đạo ngoại biên: một sóng q nhỏ ở các chuyển đạo II, III và/hoặc aVF<0,04 s và < 25% sóng R đi sau đó.
  9. Hình thái của các phức bộ QRS ở các chuyển đạo thành ngực: Vùng chuyển tiếp vào khoảng V3/V4, và sóng R tăng dần đều từ V1 đến V4/V5. Ở chuyển đạo V1 phức bộ thất có dạng rS, ở V6 có dạng qR, hiếm gặp dạng R, Rs hoặc qRs, Khảo sát các chỉ số phì đại và luôn ghi nhớ các tiêu chỉ loại trừ.
  10. Đoạn ST. Đoạn ST không được chênh quá ±1 mm so với đường đẳng điện. Tiêu chuẩn này không quá khắt khe ở các chuyển đạo V1 và V2. Trong nhịp nhanh tự phát rất khó hoặc không thể xác định được vị trí đường đẳng điện. Do đó một đoạn ST chênh xuống đáng kể nhưng không tương ứng với lâm sàng thì cũng không được xem là dấu hiệu của suy vành.
  11. Sóng T: Trục của sóng T trên các chuyển đạo ngoại biên phải tạo với vector chính một góc nhỏ hơn ± 450. Sóng T dương ở các chuyển đạo V3 –V5. Độ cao từ 20-60% độ cao R cùng một chu kỳ
  12. Sóng U: Sóng U phải dương ở tất cả các chuyển đạo có sóng T dương. Chiều cao phải < 25% sóng T cùng chu kỳ. Một sống U cao hơn sóng T cùng chu kỳ luôn luôn có ý nghĩa bệnh lý
  13. Khoảng QT: Xác định trong mối tương quan với tần số tim. Trong khi tính QT, cần phải loại trừ sóng U (chú ý trưởng hợp T và U hòa lẫn với nhau).

Việc đọc ECG cần phải luôn luôn cẩn trọng đặt trong mối liên hệ với lâm sàng (“ECG có tương quan với…”) tuy nhiên những biểu hiện lạ trên ECG cũng có thể gợi ý về một kết quả bệnh lý (“tư thể tim không tương xứng với tuổi và tương quan với…”). Trong trường hợp cấp cứu cần phải báo kết quả qua điện thoại.

TRỌN BỘ SÁCH VỀ ECG
https://sach.yho.vn/75-huong-dan-doc-dien-tim-trong-cap-cuu-1.html
https://sach.yho.vn/76-huong-dan-doc-dien-tim-trong-cap-cuu-2.html
https://sach.yho.vn/77-150-ecg-problems.html
https://sach.yho.vn/74-ban-chat-cua-ecg.html
https://yho.vn/the-ecg-in-acute-mi/


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://sach.yho.vn

Bình luận của bạn