» Bài 96 – Tính khoảng trống thẩm thấu trong khi xác định khoảng trống anion trong toan chuyển hóa Bài 96 – Tính khoảng trống thẩm thấu trong khi xác định khoảng trống anion trong toan chuyển hóa – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 96 – Tính khoảng trống thẩm thấu trong khi xác định khoảng trống anion trong toan chuyển hóa



Jennifer Maniscalco MD

Nên làm gì?

Toan chuyển hóa xuất hiện khi có sự tích tụ của ion hydro hoặc mất quá nhiều bicacbonat từ máu. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra toan chuyển hóa, và việc xác định khoảng trống anion có thể thu hẹp chẩn đoán phân biệt đáng kể. Khoảng trống anion phản ánh các anion không đo được trong máu, kết hợp với chloride và bicarbonate, ngược với lượng cation chính như natri (Bảng 140.1).

Sự gia tăng khoảng trống anion xảy ra khi gia tăng sản phẩm axít nội sinh, như trong toan ceton do đái tháo đường hoặc thiếu ăn; giảm bài tiết các axit không bay hơi (fixed acids), như trong nhiễm ure huyết hoặc suy thận mạn tính; hoặc nuốt các axit ngoại sinh, như salicylat. Ngộ độc rượu như methanol và ethylene glycol cũng có thể làm tăng các axit ngoại sinh vì các phân tử rượu bị phân hủy thành chất chuyển hóa của nó.

Ngộ độc rượu như methanol hoặc ethylene glycol có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng báo trước hội chứng ngộ độc. Hội chứng ngộ độc đặc trưng bởi tổn thương hệ thần kinh trung ương, hệ tim-phổi và hệ tiêu hóa (Bảng 140.2). Ngộ độc etylen glycol cũng liên quan đến tổn thương thận, trong khi methanol tổn thương nặng về nhãn khoa. Tuy nhiên, biểu hiện lâm sàng của chúng thường bị trì hoãn cho đến khi có sự chuyển hóa đáng kể của phân tử rượu xảy ra. Điều này làm cho chẩn đoán ban đầu khó khăn hơn, đặc biệt là khi không có tiền sử dùng rượu. Sự hiện diện của một khoảng trống anion trong toan chuyển hóa mà không có giải thích phù hợp có thể cung cấp một đầu mối để chẩn đoán ngộ độc rượu.

 Hơn nữa, cả ngộ độc methanol và ethylene glycol đều có thể dẫn đến sự gia tăng khoảng trống thẩm thấu. Không có các nguyên nhân khác gây khoảng trống anion trong toan toan chuyển hóa. Áp lực thẩm thấu huyết thanh là tổng số lượng các thành phần hoạt động thẩm thấu trong máu. Nó bị ảnh hưởng chủ yếu bởi các phân tử nhỏ có nồng độ cao như natri, kali, clorua, bicarbonate, urê và glucose. Có một số công thức để tính áp lực thẩm thấu huyết thanh và một công thức phổ biến được liệt kê trong Bảng 140.1. Khoảng trống thẩm thấu là sự khác biệt giữa áp lực thẩm thấu huyết thanh XN được và tính toán được. Cả methanol và ethylene glycol đều có chất có hoạt tính thẩm thấu làm tăng độ thẩm thấu huyết thanh và sau đó là khoảng trống thẩm thấu.

Bảng 140. 1  Common Formulas Related to the Anion Gap and the Osmolal Gap

Anion Gap = (Na+ + K+) – (Cl- + HCO3-)

Normal value = 8-16 mEq/L

Calculated Osmolality = 2(Na+) + (glucose ÷ 18) + (BUN ÷ 2.8)

Osmolal Gap = Measured Osmolality – Calculated Osmolality Normal value ≤10 mmol/L

BUN, blood urea nitrogen.

Tuy nhiên, kết quả của khoảng trống thẩm thấu phải được giải thích cẩn thận. Vì đó là methanol và ethylene glycol, chứ không phải các chất chuyển hóa của chúng, có hoạt tính thẩm thấu và làm tăng khoảng khoảng trống thẩm thấu, độ thẩm thấu đo được và do đó khoảng trống thẩm thấu giảm khi hợp chất gốc được chuyển hóa. Một bệnh nhân ngộ độc rượu có thể có một khoảng cách khoảng trống thẩm thấu bình thường nếu một lượng trao đổi chất đáng kể đã xảy ra. Ngoài ra, tính chính xác của áp lực thẩm thấu huyết thanh đo được phụ thuộc vào kỹ thuật XN, kỹ thuật được ưa thích là kỹ thuật hạ băng điểm. Nồng độ thẩm thấu huyết thanh tính được cũng biến đổi, phụ thuộc vào công thức dùng để tính toán. Cuối cùng, việc tiêu thụ ethanol hoặc một chất có hoạt tính thẩm thấu sẽ làm thay đổi áp lực thẩm thấu huyết thanh và khoảng trống thẩm thấu đo được.

Điều trị ban đầu ngộ độc methanol hoặc ethylene glycol tập trung vào chăm sóc hỗ trợ. Vì tính độc hại của cả hai loại rượu có liên quan đến các chất chuyển hóa của chúng, việc điều trị nhằm ức chế tốc độ chuyển hóa của enzym trong quá trình trao đổi chất, acohol dehydrogenase. Ethanol và fomepizole (4-metylpyrazole) là những chất ức chế cạnh tranh của alcohol dehydrogenase và thường được sử dụng cho mục đích này. Lọc máu được chỉ định trong trường hợp tăng nồng độ methanol hoặc ethylene glycol trong huyết thanh, toan chuyển hóa đáng kể, toan chuyển hóa không đáp ứng với truyền bicarbonate và suy giảm chức năng thận.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn