Bài 95 – Đánh giá tình trạng thể tích và điện giải ở trẻ em bị viêm cầu thận sau nhiễm liên cầu | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa Bài 95 – Đánh giá tình trạng thể tích và điện giải ở trẻ em bị viêm cầu thận sau nhiễm liên cầu | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 95 – Đánh giá tình trạng thể tích và điện giải ở trẻ em bị viêm cầu thận sau nhiễm liên cầu



Brian Kit MD

Nên làm gì?

Viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu (APSGN) là một di chứng của nhiễm trùng liên cầu β tan huyết nhóm A (GAS) ở da hoặc họng với các dòng GAS có gây bệnh thận. Sự khởi phát của bệnh phụ thuộc vào vị trí của nhiễm trùng ban đầu, với sự xuất hiện trung bình 10 ngày sau viêm họng và 3 tuần sau viêm tế bào. Nguyên nhân của tổn thương thận là từ sự lắng đọng các phức hợp kháng nguyên kháng thể trong cầu thận.

Trong phần lớn các trường hợp của APSGN, biểu hiện lâm sàng điển hình là hội chứng thận hư, bao gồm tiểu máu, protein niệu nhẹ, phù và cao huyết áp có hoặc không có thiểu niệu. Điển hình, việc xuất hiện tiểu máu được báo trước là nước tiểu có màu “cola”. Phù thường được ghi nhận đầu tiên ở vùng quanh hốc mắt. Khó thở khi nằm, khó thở, và ho có thể là các biểu hiện khác có liên quan đến tình trạng quá tải thể tích. Cũng có thể có các dấu hiệu không đặc hiệu bao gồm lơ mơ, chán ăn, nôn mửa, sốt, hoặc nhức đầu.

Hầu hết các bác sĩ lâm sàng bắt đầu đánh giá APSGN với phân tích nước tiểu, điều này hầu như luôn cho thấy có máu trong nước tiểu. Protein niệu thường xuất hiện, tương quan với lượng máu trong nước tiểu. XN còn có thể cho thấy dấu hiệu suy thận cấp, bao gồm creatinine tăng. Tăng kali máu và acidosis cũng có thể xảy ra.

Xác nhận chẩn đoán của APSGN yêu cầu bằng chứng nhiễm GAS trước đó. Cấy vi khuẩn ở da hoặc họng sẽ không hữu ích vì chúng hiếm khi dương tính vào thời điểm biểu hiện bệnh.

Antistreptolysin O (ASLO) tăng lên khi có viêm họng trước đó nhưng hiếm gặp ở những bệnh bị nhiễm trùng da trước đó. Antidesxyribonuclease B (Anti DNAse B) có những lợi thế hơn so với ASLO trong việc chứng minh có nhiễm trùng da GAS trước đó. Xét nghiệm ASLO và anti DNAse B thường tăng lên đủ vào thời điểm biểu hiện bệnh để xác nhận có nhiễm GAS trước đó. Trong hầu hết các trường hợp, thì mức C3 giảm vào thời điểm biểu hiện, và trở lại mức cơ bản trong 6 tuần.

 Điều trị là nhắm vào các triệu chứng của bệnh nhân. Tất cả các bệnh nhân đều nên hạn chế muối và nước. Chú ý đến kali rất quan trọng để ngăn ngừa các biến chứng tim, là hậu quả của tăng kali máu.

Đối với điều trị cao huyết áp, thuốc lợi tiểu quai thường được sử dụng, cũng có thể hữu ích trong việc giảm kali máu, nếu có. Khi có tăng huyết áp hoặc thiểu niệu nặng, các thuốc chống tăng huyết áp khác, bao gồm thuốc chẹn kênh calci hoặc thuốc chẹn beta có thể hữu ích. Thuốc ức chế men chuyển nên được sử dụng thận trọng vì tăng kali máu là một tác dụng phụ đã được biết có liên quan đến loại thuốc hạ huyết áp này. Trong những trường hợp nghiêm trọng có suy thận nặng, có thể cần phải lọc máu hoặc thẩm tách phúc mạc. Mặc dù liệu pháp kháng sinh không ảnh hưởng đến tiến trình lâm sàng của APSGN, việc điều trị GAS thích hợp được khuyến cáo để diệt trừ GAS ở mức độ cá thể và để giảm nguy cơ lây truyền dòng GAS gây bệnh thận tới các thành viên khác trong cộng đồng.

Tiên lượng của APSGN ở trẻ em là thuận lợi. Tăng huyết áp và tiểu máu thường giải quyết trong vài tuần, mặc dù tiểu máu vi thể có thể tồn tại trong nhiều năm. Protein niệu thường hết sau vài tháng. Creatinine trở về bình thường trong 3 đến 4 tuần. Nên lặp lại mức C3 ở tuần thứ 6 đến 8. Nếu mức C3 không trở lại bình thường, nên giới thiệu đến bác sĩ nhi khoa để xem xét các nguyên nhân khác của bệnh viêm thận cầu thận, bao gồm viêm thận lupus và viêm cầu thận cầu thận màng lan tỏa.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net