» Bài 93 – Có thể làm tồi tệ hơn khi điều trị trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi bằng dịch nhược trương đường tĩnh mạch (IV) (D5 1/2 hoặc D5 1/3), bởi vì các dịch nhược trương có thể dẫn đến giảm natri máu do điều trị Bài 93 – Có thể làm tồi tệ hơn khi điều trị trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi bằng dịch nhược trương đường tĩnh mạch (IV) (D5 1/2 hoặc D5 1/3), bởi vì các dịch nhược trương có thể dẫn đến giảm natri máu do điều trị – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 93 – Có thể làm tồi tệ hơn khi điều trị trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi bằng dịch nhược trương đường tĩnh mạch (IV) (D5 1/2 hoặc D5 1/3), bởi vì các dịch nhược trương có thể dẫn đến giảm natri máu do điều trị



Madan Dharmar MD

Nên làm gì?

Viêm dạ dày ruột cấp là một trong những bệnh phổ biến ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ em trên khắp thế giới. Điều trị mất nước là trọng tâm của việc điều trị, gồm liệu pháp bù nước đường miệng (tốt hơn) hoặc truyền tĩnh mạch, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của mất nước và các yếu tố khác. Bắt buộc phải chọn đúng loại dịch để tránh các rối loạn điện giải có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm.

Trong số trẻ em ở Hoa Kỳ, viêm dạ dày ruột cấp vẫn là nguyên nhân chính gây bệnh và nhập viện, chiếm khoảng 1,5 triệu lượt khám ngoại trú, 200,000 trường hợp nhập viện và khoảng 300 trường hợp tử vong mỗi năm.

Lượng chất lỏng bị mất qua phân có thể thay đổi từ 5 mL/kg/ngày, xấp xỉ bình thường, đến ≥200 mL/kg/ngày, là tiêu chảy nặng. Sự mất nước và mất điện liên quan đến tiêu chảy không được điều trị là nguyên nhân chính cho sự hoành hành của bệnh trong viêm dạ dày ruột cấp. Bệnh sử, thăm khám và đánh giá mất nước là những điểm chính trong đánh giá tiêu chảy. Điều trị thường bao gồm hai giai đoạn: bù nước và duy trì. Giai đoạn bù nước liên quan đến việc bù dịch nhanh trong vòng 3 đến 4 giờ. Giai đoạn duy trì là giai đoạn duy trì lượng calo và dịch cần thiết. Bù dịch đường tĩnh mạch là trụ cột của điều trị trong trường hợp mất nước nghiêm trọng.

  Việc bù dịch đường tĩnh mạch để duy trì sự cân bằng nước và điện giải được Holliday và Segar mô tả lần đầu tiên vào năm 1957. Họ đã dựa trên bằng chứng nhu cầu về nước rằng tương đương với năng lượng tiêu hao ở trẻ em khỏe mạnh. Tuy nhiên, các nhu cầu về natri và kali (tương ứng là 3,0 và 2,0 mEq/100 kcal/24 giờ) được tính toán dựa trên lượng điện giải do trẻ sơ sinh nhận sữa mẹ và sữa bò. Việc sử dụng dịch truyền tĩnh mạch nhược trương là dựa vào các khuyến cáo trên. Mặc dù những khuyến cáo này có thể phù hợp với trẻ khỏe mạnh, nhưng chúng không nhất thiết phải áp dụng trong trường hợp bệnh cấp tính, vì lúc này các nhu cầu về năng lượng và chất điện giải đã đi chệch khỏi nhu cầu tiêu chuẩn của một người bình thường khỏe mạnh.

Việc tính toán dựa trên khuyến cáo này có thể đã ước chừng quá cao về nhu cầu sử dụng dịch nhược trương ở bệnh nhân.

Hạ natri máu xảy ra khi tỷ lệ nước : natri tăng lên, có nghĩa là nồng độ natri huyết tương <136 mM. Điều này có thể là do giảm natri hoặc tăng nước. Điều này có thể xảy ra khi có sự cân bằng dịch dương trong cơ thể do lượng nước nạp vào tăng lên so với lượng nước bài tiết. Giảm lượng nước ra thường xảy ra thứ phát sau tiết hormone ADH. Ở người bình thường, ADH được kiểm soát bởi áp lực thẩm thấu và tăng bài niệu xảy ra chỉ khi nồng độ natri huyết tương dưới 136 mM (do ADH ức chế). Tuy nhiên, bệnh nhân nhi nhập viện có nhiều nguyên nhân kích thích tiết ADH không do áp lực thẩm thấu, và do đó khi nồng độ natri huyết tương xuống dưới 136 mM, bài niệu nước không xảy ra do sự có mặt của ADH (sự kích thích không do áp lực thẩm thấu) và điều này làm tăng lượng nước tự do trong cơ thể. Việc sử dụng dung dịch nhược trương sẽ đóng góp thêm lượng nước tự do, dẫn đến giảm natri máu ở những bệnh nhân này. Điều này đã chỉ ra rằng bệnh nhân nhập viện với viêm dạ dày ruột có tổn thất muối natri bắt buộc ở nước tiểu bất kể lượng natri máu ban đầu.

 The urinary tonicity at presentation of these patients is approximately equal to normal saline. Therefore, infusion of a hypotonic solution, which is lower in tonicity than that of urine passed, is predictive of a decrease in subsequent serum sodium.

 Hyponatremia can cause water to move into the intercellular compartment, thereby causing the cells to swell. The expansion of intracellular fluid volume is of major importance in the central nervous system, as the brain is confined in a rigid bony cage and has only limited ability to expand. Thus, brain cell swelling is very likely to increase intracranial pressure and predispose to brain herniation. Children are at greater risk of this sequela because their brains have a larger intracellular fluid volume per total skull volume. The incidence of permanent brain damage is higher in children with symptomatic hyponatremia when compared to adults. Symptoms of cerebraledemaincludenausea,vomiting,agitation,headache,seizures,andcoma.Choongetal.statethat

“based on published case reports of deaths and neurological injury from acute hyponatremia that the

administration of hypotonic solutions to children with a PNa, 138 mmol/L is potentially hazardous, given that ADH is likely to be acting.” The administration of isotonic maintenance solution in certain cases has resulted in a more rapid return of ADH to normal concentrations, when compared to hypotonic fluids. Isotonic crystalloid solutions, such as lactated Ringer and normal saline, expand the fluid space and improve circulating volume without exacerbating hyponatremia, thereby decreasing the risk of

cerebral edema. Isotonic fluids could cause hyponatremia during the perioperative period in a person who had been given Ringer lactate solution to prevent a fall in blood pressure by the process of desalination. However, administration of isotonic fluids in individuals who produced hypotonic urine could cause positive sodium, leading to hypernatremia.

In conclusion, the current recommendation for IV fluid management is not based on clinical experiment on hospitalized patients but rather was derived based on the normal homeostatic mechanisms in healthy individuals. There is evidence that, at least in some pediatric patients, hypotonic solutions exacerbate the risks of hyponatremia, whereas isotonic solutions may be protective. Taking these into account a judicious choice of fluid type should be made in the management of dehydration based on individual needs.

  • MRCP Cardiology MCQs hot icon

    Chương mới nhất: Giải thích đáp án

  • Core Radiology

    Chương mới nhất: Chương 10 Điện quang can thiệp

  • Cấp cứu theo kinh nghiệm tập 2 hot icon

    Chương mới nhất: Quản lý ban đầu nhau bong non (placental abruption: management)

  • Thuật ngữ y khoa căn bản

    Chương mới nhất:

  • Các lỗi thường gặp trong lâm sàng hot icon

    Chương mới nhất: Chương V: Thủ thuật tại giường

  • Nguyên tắc nội khoa Harrison hot icon

    Chương mới nhất: Chương V: TIM MẠCH

  • The ECG in Acute MI hot icon

    Chương mới nhất: CÁC THUỐC KẾT HỢP VỚI LIỆU PHÁP TÁI TƯỚI MÁU TRÊN BỆNH NHÂN AMI

  • Tim mạch học những điều cần biết hot icon

    Chương mới nhất: Chương 69 Bệnh tim mạch ở người nhiễm HIV/AIDS

  • Hướng dẫn phân tích dữ liệu lâm sàng hot icon

    Chương mới nhất: Chapter 75 Frank-Starling Curve

  • You’re Wrong, I’m Right hot icon

    Chương mới nhất: Is a Tricyclic Antidepressant the Best First-Line Agent in Treating Neuropathic Pain?


  • Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net