» Bài 92 – Nên nhớ rằng, trong tình trạng tăng đường huyết, thì "hạ natri giả tạo" xảy ra Bài 92 – Nên nhớ rằng, trong tình trạng tăng đường huyết, thì "hạ natri giả tạo" xảy ra – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 92 – Nên nhớ rằng, trong tình trạng tăng đường huyết, thì "hạ natri giả tạo" xảy ra



Esther Forrester MD

Nên làm gì?

Để có một sự hiểu biết thấu đáo về vấn đề dịch và điện giải, người ta phải thật sự hiểu được thành phần của chất tan và nước và sự cân bằng được duy trì như thế nào trong hoàn cảnh bình thường. Nước là hợp chất dồi dào nhất trong cơ thể con người. Tỷ lệ phần trăm thay đổi theo tuổi tác và thành phần cơ thể. Nó chiếm 80% trọng lượng cơ thể ở trẻ sơ sinh non tháng, 70% ở trẻ đủ tháng, 65% ở trẻ nhỏ, và khoảng 60% trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên. Có hai ngăn chứa nước trong cơ thể: khoang nội bào và ngoài tế bào.

Nước trong tế bào (ICW) chiếm khoảng 40% trọng lượng cơ thể, hoặc 2/3 tổng lượng nước trong cơ thể. Nước ngoại bào (ECW) đề cập đến lượng dịch trong mô kẽ và trong lòng mạch. Dịch mô kẽ là nước rửa các tế bào; huyết thanh là phần nước trong máu. ECW chiếm khoảng 20% đến 25% trọng lượng cơ thể, hoặc một phần ba tổng lượng nước cơ thể. Sự di chuyển nước giữa vùng kẽ và trong mạch máu (nghĩa là chuyển động của nước trong ECW) được điều chỉnh bởi lực Starling. Phương trình như sau:

Fluid movement = K* [(Pc – Pi) – (IIc – IIi)]

 K = hệ số thấm mao mạch, Pc = áp lực thủy tĩnh mao mạch, Pi = áp lực thủy tĩnh mô kẽ, IIc = áp lực keo mao mạch, và IIi  = áp lực keo mô kẽ.

 Sự chuyển động của dịch đi qua màng mao mạch được điều chỉnh bởi độ thẩm thấu của màng đó và sự khác biệt về áp lực thủy tĩnh và áp lực keo ở 2 bên của màng. Khi sự cân bằng bình thường bị phá vỡ (ví dụ mất nước), sự dịch chuyển của chất lỏng là từ khoang kẽ vào khoang trong lòng mạch với hy vọng lập lại cân bằng và duy trì huyết áp. Mặt khác, sự dịch chuyển của nước là từ khoang trong lòng mạch vào khoang mô kẽ khi có quá tải thể tích trong lòng mạch hoặc albumin máu giảm.

Sự di chuyển của nước giữa các khoang chất lỏng (ví dụ, giữa khoang trong tế bào và ngoài tế bào) xảy ra dựa trên các gradient thẩm thấu. Độ thẩm thấu của mỗi khoang phản ánh số lượng và loại chất tan trong mỗi khoang. Áp lực thẩm thấu được định nghĩa là số mmol của chất hòa tan trên một kilogram nước. Sự cân bằng ở ngoại bào được điều chỉnh bởi thận. Sự cân bằng nội bào được điều chỉnh bởi nhiều cơ chế vận chuyển khác nhau. Nước chảy tự do (qua màng bán thấm của tế bào) giữa các khoang nội bào và ngoại bào để làm cân bằng áp lực thẩm thẩu. Natri và clorua là các chất tan ngoài tế bào chủ chốt.

Nồng độ glucose và urê cũng đóng một vai trò đáng kể trong thẩm thấu ngoài tế bào, và phương trình sau đây ước tính độ thẩm thấu huyết thanh:

BUN = ure máu.

Dựa vào phương trình trên, người ta có thể thấy tăng natri máu tạo ra tăng áp lực thẩm thấu; tuy nhiên, hạ natri máu không đồng nghĩa với giảm áp lực thẩm thấu (urea, glucose, hoặc các osmoles khác góp phần vào áp lực thẩm thấu của huyết thanh).

 Glucose không qua được màng tế bào một cách dễ dàng. Do đó, glucose huyết thanh cao (cần nhớ, huyết thanh phản ánh khoang bên ngoài tế bào) dẫn đến gradient thẩm thấu với sự chuyển động dịch từ bên trong tế bào ra khoang ngoài tế bào. Điều này dẫn đến nồng độ natri trong huyết thanh thấp hơn và đôi khi được gọi là “hạ natri máu giả tạo”. Ở trạng thái tăng đường huyết, sự di chuyển của dịch sẽ làm giảm nồng độ natri huyết thanh xuống 1,6 mEq/l đối với mỗi 100 mg/dL glucose trên mức bình thường. Tính toán để ước lượng natri huyết thanh “thật” là:

Tương tự, tăng lipid máu nặng và tăng natri máu nặng có thể dẫn đến tình trạng hạ natri máu giả tạo. Việc điều chỉnh tình trạng tăng đường huyết, tăng lipid máu, và/hoặc tăng lượng protein tăng sẽ dẫn đến sự khuếch tán nước trở lại trong khoang tế bào và bình thường hoá mức natri huyết thanh. Mặc dù các khoang nội bào và ngoại bào tách biệt nhau, nhưng chúng ảnh hưởng lẫn nhau; ví dụ: nếu áp lực thẩm thấu ngoại bào tăng lên, nước sẽ “thoát ra” từ khoang nội bào. Chức năng của tế bào cũng bị ảnh hưởng và có thể bị tổn hại.

Phù hoặc co nội bào có thể dẫn đến hậu quả chết người. Ví dụ, các tế bào não có độ dung nạp cực kỳ thấp đối với việc phù lên hoặc co lại. Trong toan ceton ĐTĐ, có sự dịch chuyển chất lỏng từ bên trong tế bào ra khoang ngoài tế bào (do tăng đường huyết), có thể dẫn đến rối loạn chức năng não. Rất may, cơ thể có các cơ chế bảo vệ để bảo vệ và khôi phục sự cân bằng. Ví dụ, xem hình 136.1, mô tả cách thức cơ thể phản ứng với sự giảm thể tích. Hình 136. 1 The protective and restorative responses to volume loss. When the kidney senses a decrease in the ECW, it secretes renin, which initiates a cascade of responses that ultimately leads to increased systemic vasoconstriction and the maintenance or restorat


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn