» Bài 87 – Xem xét hạ đường huyết kèm cetone (ketotic hypoglycemia) khi đánh giá trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi bị hạ đường huyết Bài 87 – Xem xét hạ đường huyết kèm cetone (ketotic hypoglycemia) khi đánh giá trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi bị hạ đường huyết – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 87 – Xem xét hạ đường huyết kèm cetone (ketotic hypoglycemia) khi đánh giá trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi bị hạ đường huyết



William Giasi Jr. MD

Nên làm gì?

Ở trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi, dấu hiệu và triệu chứng của hạ đường huyết thường có thể mơ hồ và khó thấy. Với những biểu hiện tinh vi và không đặc hiệu của các dấu hiệu và triệu chứng, việc phát hiện hạ đường huyết phụ thuộc vào một chỉ số nghi ngờ cao.

Các triệu chứng của hạ đường huyết có thể được mô tả thành hai loại theo sinh lý: kích hoạt hệ thống thần kinh tự động đặc trưng bởi triệu chứng hệ giao cảm và các triệu chứng thần kinh. Khi nồng độ glucose huyết thanh <40 mg / dL, nó có thể gây ra tình trạng đói và kích hoạt phản ứng giao cảm. Các triệu chứng giao cảm thường gặp bao gồm bồn chồn, lo lắng, đổ mồ hôi, nhịp tim nhanh, tái nhợt, yếu, buồn nôn, và nôn. Các triệu chứng thần kinh trung ương bao gồm nhức đầu, chóng mặt, chán nản tâm thần, mệt mỏi, khó tập trung, nhầm lẫn, thay đổi nhân cách, thay đổi thị lực, động kinh và hôn mê. Triệu chứng sơ sinh bao gồm những triệu chứng được nhìn thấy ở trẻ em, như run rẩy, bồn chồn và nhịp tim nhanh, nhưng cũng có thể biểu hiện bằng các dấu hiệu không đặc hiệu, như thở nhanh, ngưng thở, xanh tím, giảm trương lực cơ, khó nuốt, khóc bất thường, co giật và hôn mê.

Chẩn đoán phân biệt và điều trị hạ đường huyết là rất nhiều và đòi hỏi sự hiểu biết về cơ chế sinh bệnh. Hạ đường huyết có thể là kết quả của rối loạn tân tạo glucose, chuyển hóa glycogen, oxy hóa lipid, hay chuyển hóa acid amin.

Nồng độ glucose huyết thanh cần được đánh giá để xác định hạ đường huyết. Xác định bệnh nhân có kèm cetone hay không là một quyết định quan trọng để tạo ra chẩn đoán phân biệt. Có hai loại chính: hạ đường huyết không kèm cetone và hạ đường huyết kèm cetone.

  Những rối loạn dẫn đến tình trạng hạ đường huyết không không kèm cetone bao gồm không có khả năng tạo ra glucose và các dạng năng lượng thích hợp mặc dù còn lượng glycogen dự trữ thích hợp. Một tác dụng nổi bật của insulin và các hoocmon đối kháng là để ngăn chặn sự phân giải lipid và cetone. Do đó, những nguyên nhân này liên quan đến mức insulin cao hoặc thiếu các hoocmon đối kháng không tạo ra lượng ceton cao. Các nguyên nhân này bao gồm tăng tiết insulin trong u tế bào tiết insulin hoặc quá sản, trẻ sơ sinh của các bà mẹ bị tiểu đường, suy toàn bộ tuyến yên bẩm sinh, tăng sản thượng thận bẩm sinh, các khuyết tật oxy hóa chất béo, và hội chứng Beckwith-Wiedemann.

Hạ đường huyết có kèm cetone thường là thứ phát do không đủ glycogen dự trữ. Các nguyên nhân bao gồm bệnh hạ đường huyết kèm cetone, bệnh chuyển hóa (galactosemia: bệnh không chuyển hóa được galactose, hạ đường huyết fructose di truyền, bệnh glycogen dự trữ loại 1), tiêu thụ (ethanol, insulin, salicylates, propanolol), suy gan, và nhiễm trùng huyết. Bệnh hạ đường huyết kèm cetone là nguyên nhân phổ biến nhất cho hạ đường huyết ở trẻ em từ 18 tháng đến 5 tuổi. Các đợt hạ đường huyết xảy ra thường xuyên nhất khi lượng thức ăn ăn vào bị hạn chế và trẻ trải qua những đợt như vậy trong một thời gian dài; ví dụ trong những giai đoạn bệnh tật. Trẻ bị hạ đường huyết kèm cetone thường nhỏ con hơn các em khác và có tiền sử hạ đường huyết sơ sinh thoáng qua. Bệnh sử kinh điển là một đứa trẻ bỏ bữa ăn tối và rất khó để dậy vào sáng hôm sau. Ở trẻ bị hạ đường huyết kèm cetone, kiêng ăn từ 12 đến 18 giờ sẽ dẫn đến hạ đường huyết, cetone máu và cetone niệu. Trẻ em bình thường có thể chịu được ăn kiêng lên đến 24 đến 48 giờ, lúc đó chúng mới phát triển các triệu chứng tương tự.

Nguyên nhân và sinh bệnh học của hạ đường huyết kèm cetone chưa được biết. Người ta tin rằng có một khiếm khuyết trong quá trình dị hóa protein phức tạp.

 Khối lượng cơ nhỏ hơn và các khiếm khuyết trong quá trình chuyển hóa cung cấp của con đường chuyển hóa glucose, từ đó đưa đến việc bệnh nhân tiến triển hạ đường huyết nhanh hơn. Trẻ bị hạ đường huyết kèm cetone sẽ có cetone niệu, cetone máu, mức insulin thấp và nồng độ alanine huyết thanh thấp trong thời điểm hạ đường huyết. Sự có mặt của cetone phản ánh sự không có khả năng sử dụng protein của trẻ và sự nỗ lực của các cơ quan để sử dụng các nguồn năng lượng thay thế cho sự hình thành glucose. Điều trị hạ đường huyết kèm cetone  đòi hỏi phải thường xuyên ăn nhiều protein, carbohydrate cao. Ngoài ra, trong thời gian ốm đau hoặc giảm lượng calo, nên theo dõi cetone trong nước tiểu.

Điều quan trọng cần phải nhấn mạnh là hạ đường huyết là triệu chứng chứ không phải là chẩn đoán. Hơn nữa, vì nhiều dấu hiệu và triệu chứng của hạ đường huyết không đặc hiệu và khó thấy, bác sĩ lâm sàng phải duy trì nghi ngờ cao về hạ đường huyết. Làm xét nghiệm có thể giúp bác sĩ lâm sàng trong việc xác định nguyên nhân của hạ đường huyết. Điều cần thiết để xác định hạ đường huyết là đo lượng đường trong huyết thanh.

Hơn nữa, điều quan trọng là ở thời điểm hạ đường huyết cần làm các xét nghiệm nước tiểu, insulin, cortisol, nồng độ hormon tăng trưởng, ceton huyết thanh, và chất điện giải. Các xét nghiệm cần làm thêm nếu nghĩ đến nguyên nhân chuyển hóa bao gồm NH3, lactate, axit béo tự do, acylcarnitine và axit hữu cơ. Bệnh sử và xét nghiệm có thể cho biết chẩn đoán phân biệt, đánh giá và điều trị.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn