» Bài 86 – Kiểm tra suy giáp ở BN có tầm vóc ngắn và chậm phát triển Bài 86 – Kiểm tra suy giáp ở BN có tầm vóc ngắn và chậm phát triển – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 86 – Kiểm tra suy giáp ở BN có tầm vóc ngắn và chậm phát triển



Elizabeth Wells MD

Nên làm gì?

Sự tăng trưởng là một trong những đánh giá quan trọng nhất của sức khoẻ nhi khoa. Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo rằng nên đánh giá chiều cao và cân nặng của trẻ mỗi lần trẻ đến khám. Tầm vóc ngắn được định nghĩa là thấp hơn 2 độ lệch chuẩn so với chiều cao trung bình theo giới tính và độ tuổi. Hai nguyên nhân phổ biến nhất của tầm vóc ngắn là tầm vóc ngắn di truyền, trong đó đứa trẻ đang phát triển trong phạm vi đích của cha mẹ và sự chậm tăng trưởng thể chất, trong đó tuổi xương bị trì hoãn. Trẻ bị rối loạn nội tiết thường là thừa cân so với chiều cao, trái ngược với trẻ thiếu dinh dưỡng thiếu cân so với chiều cao.

Suy giáp là một nguyên nhân gây ra sự suy giảm sinh trưởng ở trẻ em. Suy giáp ở trẻ sơ sinh và thời thơ ấu cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây chậm phát triển trí tuệ có thể ngăn ngừa được. Bác sĩ nhi khoa phải đặt suy giáp trong chẩn đoán phân biệt ở trẻ có tầm vóc ngắn và chậm phát triển.

Suy giáp ở trẻ bị chậm phát triển có thể là bẩm sinh hoặc mắc phải. Suy giáp trạng bẩm sinh (CH), một rối loạn không thể đảo ngược, ảnh hưởng đến 1/4.000 trẻ, thường là do sự phát triển bất thường của tuyến giáp (loạn sản hoặc thiểu sản) hoặc là một sai lầm bẩm sinh trong sản xuất hoocmon tuyến giáp. Ít phổ biến hơn, CH có thể là hậu quả của bất thường về tuyến yên hoặc dưới đồi. Hầu hết trẻ sơ sinh có CH có vẻ ngoài bình thường và không có dấu hiệu thể chất có thể phát hiện được. Khám sàng lọc trẻ sơ sinh kịp thời, và trị liệu tuyến giáp bắt đầu trong vòng 2 tuần sau sinh, có thể đảm bảo phát triển nhận thức bình thường. Suy giáp dai dẳng, được xác định bởi sự trở về bình thường một cách chậm trễ của T4 sau khi bắt đầu điều trị, có thể dẫn đến nhận thức bị ảnh hưởng; do đó, một lịch sử điều trị CH không thể loại trừ suy giáp như là một nguyên nhân của tầm vóc ngắn và chậm phát triển.

 Trên toàn thế giới, nguyên nhân phổ biến nhất của chứng suy giáp là thiếu iốt. Suy giáp mắc phải ở trẻ em tại Hoa Kỳ thường là kết quả của viêm tuyến giáp tự miễn mạn tính (AKA Hashimoto thyroiditis), với bướu cổ là một biểu hiện thường gặp hơn là teo tuyến giáp.

Trẻ có một số bất thường về nhiễm sắc thể, như có ba NST 21, hội chứng Turner, và hội chứng Klinefelter, cũng như trẻ bị đái tháo đường típ 1 có nguy cơ mắc bệnh viêm tuyến giáp tự miễn mạn tính cao hơn. Một nguyên nhân khác của suy giáp là chấn thương tuyến giáp, có thể là do các khối u vùng đầu và cổ, xạ trị vùng sọ-đốt sống và điều trị iode phóng xạ ở bệnh Graves. Bệnh lý vùng dưới đồi hoặc tuyến yên gây ra chứng suy giáp trung ương, và nên được nghi ngờ khi hocmon kích thích tuyến giáp (TSH) thấp.

Sự chậm phát triển của bệnh suy giáp bẩm sinh có thể xảy ra ngay cả ở trẻ sơ sinh có kết quả xét nghiệm T4 và TSH sàng lọc lúc sinh bình thường. CH có thể biểu hiện hoặc mắc phải sau khi sàng lọc lúc sinh. Có một số nhà lâm sàng đề nghị kiểm tra lại sau 4 tuần ở tất cả trẻ sơ sinh có cân nặng khi sinh thấp và rất thấp; do đó, bác sĩ lâm sàng không nên ngần ngại lặp lại xét nghiệm tuyến giáp.

Việc kiểm tra suy giáp nên bao gồm đo TSH và FT4. Trẻ em bị thiểu năng tuyến giáp nguyên phát sẽ có TSH cao và FT4 thấp, trong khi trẻ bị suy giáp trung ương sẽ có TSH bình thường hoặc thấp, và FT4 thấp. Hầu hết trẻ em bị viêm tuyến giáp tự miễn mạn tính sẽ có nồng độ anti-TPO cao. Việc đo TSH đơn độc có thể làm bỏ sót suy giáp trung ương. Hình ảnh cộng hưởng từ não và xét nghiệm các hoocmon tuyến yên khác cần được thực hiện ở những bệnh nhân bị nghi ngờ mắc bệnh suy giáp trung ương.

Hoóc môn tuyến giáp (T4) là phương pháp điều trị được lựa chọn ở trẻ bị suy giáp. Mục tiêu điều trị là bình thường hoá chức năng tuyến giáp nhanh chóng, nhằm phục hồi sự tăng trưởng và phát triển bình thường, và giảm thiểu sự phơi nhiễm của hệ thần kinh trung ương với nồng độ tuyến giáp thấp ở trẻ sơ sinh có CH.

Việc chẩn đoán CH chậm trễ (tức là, CH kéo dài, chưa được điều trị), thì nguy cơ bị chậm phát triển trí tuệ và các di chứng thần kinh khác càng cao. Sự liên quan giữa chứng suy giáp mắc phải và sự phát triển não ở trẻ lớn hơn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Hoóc môn tuyến giáp rõ ràng rất quan trọng đối với sự phát triển của não trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhưng nó có thể đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của não và trưởng thành của thanh thiếu niên. Ví dụ, một nghiên cứu cho thấy sự cải thiện điểm số trí thông minh có liên quan đến việc tuân thủ điều trị T4 tốt hơn ở bệnh nhân thiếu niên bị CH.

 Về mặt tăng trưởng thể chất, nhiều trẻ bị suy giáp có thể đạt được tiềm năng tăng trưởng bình thường khi điều trị, vì tuổi xương của chúng thường chậm như chiểu cao theo tuổi của chúng. Các nghiên cứu cho thấy rằng bắt kịp tăng trưởng là tốt nhất khi suy giáp được chẩn đoán sớm và trước khi dậy thì. Ngoài ra, bác sĩ nhi khoa cần phải nhận ra được giới tính khi nghi ngờ lâm sàng. Các nghiên cứu đã gợi ý rằng việc phân biệt về giới tính ở trẻ có tầm vóc ngắn có thể trì hoãn việc chẩn đoán bệnh ở trẻ em gái, đồng thời khuyến khích đánh giá tích cực các bé trai khỏe mạnh mà không đủ cao.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn