» Bài 82 – Đánh giá biểu đồ tăng trưởng mỗi khi thăm khám cho trẻ Bài 82 – Đánh giá biểu đồ tăng trưởng mỗi khi thăm khám cho trẻ – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 82 – Đánh giá biểu đồ tăng trưởng mỗi khi thăm khám cho trẻ



Anjali Subbaswamy MD

Nên làm gì

Biểu đồ tăng trưởng bình thường và các biến động của nó sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng hiểu được những thay đổi khó nhận biết về hóa học của cơ thể, những biến đổi này có thể không biểu lộ trong một khoảng thời gian đáng kể (ví dụ như suy giáp, các vấn đề nội tiết khác). Thảo luận các biến đổi bình thường trong tăng trưởng.

Đánh giá biểu đồ tăng trưởng của trẻ sẽ cho thấy một bức tranh về sức khoẻ tổng thể của đứa trẻ. Trên thực tế, một số người cho rằng tăng trưởng được xem như một dấu hiệu quan trọng. Đây là một chỉ số nhạy cảm về sức khoẻ nói chung. Tăng trưởng bất thường có thể là biểu hiện đầu tiên của bệnh lý. Mặc dù thực tế này, một cuộc khảo sát về thực hành chăm sóc ban đầu ở Hoa Kỳ cho thấy 10% bác sĩ nhi khoa và 40% bác sĩ gia đình không đánh giá khi trẻ đến khám. Thường rất khó để phân biệt giữa tăng trưởng bình thường và bất thường. Tầm vóc ngắn có thể là một sự thay đổi bình thường hoặc là dấu hiệu của bệnh lý.

 Sự tăng trưởng trước sinh chịu ảnh hưởng của dinh dưỡng, kích thước tử cung, và môi trường trao đổi chất. Insulin, yếu tố tăng trưởng giống insulin (IGF), và các protein liên kết của chúng rất quan trọng cho sự phát triển của bào thai. Hormone tăng trưởng (GH) và hormone tuyến giáp không có vai trò trong sự tăng trưởng trước sinh; tuy nhiên, chúng ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng bình thường sau sinh. GH có dạng tự do và kết hợp, và gây ra sự phát triển của các tế bào sụn tại sụn tăng trưởng (growth plate). Nó cũng kích thích tiết IGF-1, điều này là trung gian thúc đẩy sự tăng trưởng của GH. Trong giai đoạn sau sinh, tốc độ tăng trưởng tuyến tính giảm đi nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng tuyến tính của trẻ trung trung bình là 25,12 và 8cm/năm trong 3 năm đầu sau sinh. Từ thời điểm này cho đến khi bắt đầu dậy thì, tăng trưởng tuyến tính xảy ra liên tục với tỷ lệ 4-7 cm mỗi năm; tăng trọng trung bình 2,5 kg mỗi năm. Ở tuổi dậy thì, nhờ các hormone giới tính (testosterone và estrogen), cùng với GH, hormone tuyến giáp và dinh dưỡng, mà tốc độ tăng trưởng tăng lên – sự phát triển tuổi dậy thì.

Ở trẻ gái, điều này thường xảy ra khi đánh giá mức độ trưởng thành về giới tính (SMR) là 3 đối với vú; sự bùng phát tăng trưởng ở nam giới thường xảy ra khi SMR là 4 ở nam giới. Sau tuổi dậy thì, sự tăng trưởng cuối cùng cũng dừng lại để đóng các sụn tiếp hợp (epiphyseal plate) do tác dụng của estrogen. Tăng trưởng là một mối liên kết phức tạp giữa gen, hormone, dinh dưỡng và môi trường. Các bác sĩ phải đánh giá chính xác mức tăng trưởng trong mỗi lần khám sức khỏe cho trẻ nhỏ và biết khi nào cần đánh giá thêm.

Khi đánh giá trẻ có khả năng có vấn đề về tăng trưởng, việc phân tích chính xác đường cong tăng trưởng là rất quan trọng. Bốn khía cạnh của đường cong tăng trưởng cần được đánh giá:

1.           Độ tin cậy của phương pháp đánh giá.

2.           Chiều cao tuyệt đối liên quan đến khả năng có bệnh lý (ví dụ: một trẻ có chiều cao tuyệt đối < 3 SD so với bình thường sẽ có khả năng có bệnh lý cao hơn trẻ có chiều cao tuyệt đối < 1 SD).

3.           Tốc độ tăng trưởng chiều cao qua việc quan sát chiều cao của trẻ theo thời gian. Đây là khía cạnh quan trọng nhất trong bốn khía cạnh, và cần ít nhất 4-6 tháng quan sát. Giảm tốc độ tăng trưởng chiều cao (thông qua tỉ lệ phần trăm) giữa 3 và 12 đến 13 năm là bệnh lý cho đến khi được chứng minh khác. Tốc độ tăng trưởng chiều cao bình thường (bất kể chiều cao tuyệt đối như thế nào) thường không phải là bệnh học.

4.           Mối liên quan giữa trọng lượng với chiều cao hỗ trợ trong việc đánh giá nguyên nhân của sự chậm tăng trưởng ở trẻ có chiều cao ngắn. Rối loạn hệ thống liên quan đến tỉ cân nặng:chiều cao thấp (giảm khả năng tăng trọng hơn so với sự tăng trưởng tuyến tính). Rối loạn nội tiết thường liên quan đến việc duy trì sự tăng cân (tỉ cân nặng:chiều cao lớn hơn).

Chiều cao đích cũng rất hữu ích trong việc xác định tiềm năng tăng trưởng di truyền. Nó được tính bằng các phương trình sau:

Chiều cao đích của trẻ trai = (chiều cao bố

[cm]

+ chiều cao mẹ [cm] + 13)   Chiều cao đích ở trẻ gái = (chiều cao bố [cm] + chiều cao mẹ [cm] – 13)

Hầu hết trẻ em đều đạt được chiều cao trong phạm vi 10 cm so với chiểu cao đích. Tuổi xương là một phương pháp đánh giá sự trưởng thành xương và khung xương bằng cách so sánh các trung tâm của đầu xương qua chụp X quang với các tiêu chuẩn phù hợp với tuổi tác. Phương pháp thường sử dụng là đánh giá xương của bàn tay và cổ tay. Nếu có tầm vóc ngắn, và độ tuổi xương bị trì hoãn, tầm vóc ngắn có thể “hồi phục”. Tuy nhiên, tuổi xương bình thường và tầm vóc ngắn thì đáng lo hơn.

Đánh giá tỉ số cơ thể phần trên:dưới (U/L) cho thấy nếu tầm vóc ngắn là cân xứng. Loạn sản xương liên quan đến cột sống thường có tỉ U/L giảm theo tuổi; liên quan đến xương dài  (ví dụ: loạn sản sụn) thường có tỉ U/L tăng. Dậy thì sớm có thể có tỉ U/L tăng lên theo tuổi. Tỉ này suy giảm có thể thấy trong hội chứng Klinefelter hoặc Kallmann.

Hình 126. 1 Causes of growth delay-1ptretardation. AIDS, acquired immunodeficiency syndrome; GH, growth hormone; GI, gastrointestinal; IUGR, intrauterine growth restriction.

Thể chất chậm phát triển (CDGA) và tầm vóc gia đình ngắn (FSS) được coi là các biến thể bình thường của sự tăng trưởng. Trong CDGA, tăng trưởng được đặc trưng bởi: (a) chiều dài lúc sinh sinh bình thường; (b) sự phát triển tuyến tính chậm trong 3 năm đầu đời (cân nặng và chiều cao giảm qua tỉ lệ phần trăm); (c) tốc độ tăng trưởng tuyến tính nằm dưới bình thường hoặc gần bình thường nhưng song song với tỉ lệ 5% trong thời kỳ trước dậy thì; (d) tuổi xương bị chậm và sự trưởng thành của tuổi dậy thì trùng với tuổi xương, chứ không phải tuổi thòi gian (chronologic age); và (e) chiều cao cuối cùng khi trưởng thành thường là bình thường. Đây là “sự trổ giò trễ.” Thông thường, cha của đứa trẻ là một đứa trẻ có chiều cao ngắn và đã trải qua tuổi dậy thì muộn. Tuổi xương luôn luôn bị chậm trễ. Mô hình tăng trưởng của FSS khá giống với CDGA cho đến tuổi dậy thì. Họ có chiều cao và cân nặng bình thường khi sinh và có xu hướng vượt qua các phần trăm tăng trưởng tuyến tính trong suốt 2 năm đầu đời (hoàn thành sự phát triển phù hợp với di truyền). Tại thời điểm này, một đứa trẻ bị FSS có đường cong tăng trưởng ổn định thấp hơn, nhưng song song với đường cong tăng trưởng bình thường. Tuổi dậy thì trùng với tuổi thời gian, và chiều cao cuối cùng khi trưởng thành thấp, nhưng phù hợp với chiều cao của bố mẹ. Tuổi xương thường là bình thường. Xem hình 126.1 dưới đây: các nguyên nhân tăng trưởng chậm/trì hoãn.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn