» Bài 80 – Biết những đặc tính của tiếng tim thứ 2 (S2) vì nó là bệnh lý Bài 80 – Biết những đặc tính của tiếng tim thứ 2 (S2) vì nó là bệnh lý – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 80 – Biết những đặc tính của tiếng tim thứ 2 (S2) vì nó là bệnh lý



Russell Cross MD

Nên làm gì?

S2 nên được coi là một phần thiết yếu khi khám tim cho trẻ em và không nên bỏ qua. Thời gian và đặc tính của S2 trong một số trường hợp là dấu hiệu cho thấy vấn đề về tim, đặc biệt ở trẻ sơ sinh vẫn còn ống động mạch. Điều quan trọng là người thăm khám phải thực hiện một đánh giá theo từng bước có chủ ý trong mỗi lần nghe. Tiếng S2 được tạo ra bằng cách đóng các van động mạch chủ và van phổi ở cuối thì tâm thu, và thường được mô tả là có thành phần động mạch chủ (A2) và phổi (P2). Các đặc trưng quan trọng của S2 là cường độ của các thành phần, thời gian và mối quan hệ của chúng với nhau. Đặc điểm của tiếng S2 có thể chẩn đoán được các bất thường của tim bẩm sinh như các thông liên nhĩ, bệnh tim bẩm sinh nghiêm trọng hơn như teo van động mạch phổi, và hội chứng giảm sản tim trái, và cũng có thể cho thấy bằng chứng của tăng áp phổi.

Trong trái tim bình thường, thời gian S2 thay đổi theo hô hấp. Vào cuối kỳ thở ra, van A2 đóng cửa cùng thời điểm hoặc hơi trước khi van phổi đóng lại. Áp lực âm trong lồng ngực được tạo ra trong quá trình thở vào khiến máu vào tâm thất phải từ tĩnh mạch hệ thống nhiều hơn; sự tăng nhẹ thể tích thất phải lâu hơn một chút để thoát khỏi tâm thất phải trong thời kỳ co tâm thu. Thời gian này lâu hơn sẽ tạo ra sự chậm trễ tương đối của đóng P2 so với A2. Kết quả là, người nghe sẽ nghe thấy sự phân chia S2 tăng lên trong thì thở vào, so với một S2 hẹp hơn hoặc đơn lẻ trong thời kỳ thở ra. Sự biến đổi trong tiếng S2 tách đôi sẽ rõ ràng trong nhiều trường hợp, được mô tả như là một tiếng lách cách thanh gọn S2 được nghe trong thì thở ra.

Một đặc điểm quan trọng khác của S2 cần được đánh giá là cường độ hoặc âm lượng. Thông thường cường độ P2 sẽ giảm đáng kể khi so sánh với A2. Điều này liên quan đến một thực tế là ở người bình thường áp lực phổi thấp hơn đáng kể so với áp lực động mạch chủ – thường là khoảng 25% áp lực hệ thống. Do đó, tiếng P2 của S2 mềm hơn so với A2 vì áp suất đóng van phổi thấp hơn áp lực đóng van động mạch chủ. Do đó, cường độ của S2 có thể cho thấy rõ tình trạng của áp lực phổi.

Bệnh tim bẩm sinh phổ biến nhất mà đánh giá S2 có thể chẩn đoán được là thông liên nhĩ. Khi có shunt trái-phải đáng kể, tiếng S2 sẽ tách đôi rõ ràng hơn và cũng ít có sự biến đổi theo nhịp thở hơn. Sự thay đổi này liên quan đến thực tế là phải mất một khoảng thời gian dài hơn để tăng thể tích tâm thất phải được tống ra trong thì tâm thu so với tâm thất trái. S2 tách đôi rộng là bệnh lý của thông liên nhĩ và cần được nhận biết khi nghe tim ở trẻ em.

Một dấu hiệu khó hơn, nhưng quan trọng không kém, là một tiếng S2 đơn độc. Một số dạng bệnh tim bẩm sinh khác có thể dẫn đến một S2 đơn độc, nhưng tất cả chúng đều có thể được phân loại tương tự nhau vì hệ quả của S2 đơn độc được tạo ra do sự vắng mặt hoặc giảm nghiêm trọng một trong những thành phần tạo nên nó – tức là thành phần động mạch chủ hay thành phần phổi của S2 có thể bị thiếu. Một ví dụ là chứng thiểu sản phổi. Trong bệnh này, không có van phổi để tạo ra một thành phần P2 của S2, do đó, S2 là đơn độc và không thay đổi theo nhịp thở. Bất kỳ bệnh tim bẩm sinh nào mà hậu quả là không có hoặc giảm sản van phổi sẽ dẫn đến S2 đơn độc.

 Tương tự, thiểu sản động mạch chủ hoặc hội chứng giảm sản tim trái trái sẽ dẫn đến một S2 đơn độc do mất thành phần động mạch chủ. Những bệnh tim bẩm sinh này sẽ gây ra những dấu hiệu khác, chẳng hạn như thiếu oxy máu và tưới máu kém, nhưng những thay đổi này sẽ không xuất hiện cho đến khi ống động mạch đóng lại trong vài giờ đến nhiều ngày sau sinh. Điều này, một lần nữa cho thấy phải phát hiện ra một S2 đơn lẻ khi khám tim ở trẻ, vì nó có thể là một dấu hiệu sớm của bệnh tim nghiêm trọng, lý tưởng là phát hiện được trước khi những thay đổi sinh lý xảy ra sau khi đóng ống động mạch.

Một dạng bệnh tim bẩm sinh khác có thể dẫn đến một S2 đơn độc là hoán vị đại động mạch. Trong quá trình hoán vị, các động mạch chủ và động mạch phổi được chuyển đổi và phát sinh tâm thất sai. Điều này thường gây ra tình trạng thiếu oxy máu trầm trọng. Khi khám thực thể, phải thường xuyên đánh giá một S2 đơn độc, mà trong trường hợp này không phải là do không có van bán nguyệt, mà là do van phổi nằm sâu hơn ngực hơn bình thường và không thể nghe vì cường độ thấp hơn bình thường. Như đã đề cập trước đó, chú ý cẩn thận đặc điểm của tiếng tim thứ hai cũng có thể rất quan trọng để chẩn đoán tăng áp phổi. Bất kể nguyên nhân, tăng áp phổi sẽ dẫn đến một P2 lớn. Ở trẻ lớn hơn hoặc thiếu niên, tăng áp phổi đôi khi có những triệu chứng mơ hồ như buồn ngủ, khó chịu và thở nhanh. Trong những trường hợp như vậy, tiếng P2 lớn có thể là một phát hiện quan trọng, tách tăng áp phổi khỏi những triệu chứng thông thường và ít nghiêm trọng hơn.

Đánh giá S2 và phát hiện các bất thường trong các thành phần của nó cần phải luyện tập nhiều và chú ý kỹ đến các chi tiết. Điều quan trọng là việc nghe phải được thực hiện từng bước một, chú ý đến thời gian và cường độ của các thành phần vì chúng có thể cung cấp manh mối quan trọng về bệnh lý.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn