» Bài 78 – Xác định được cuồng nhĩ ở trẻ em, nó là một trong những rối loạn nhịp nhanh phổ biến dễ bỏ sót nhất. Bài 78 – Xác định được cuồng nhĩ ở trẻ em, nó là một trong những rối loạn nhịp nhanh phổ biến dễ bỏ sót nhất. – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 78 – Xác định được cuồng nhĩ ở trẻ em, nó là một trong những rối loạn nhịp nhanh phổ biến dễ bỏ sót nhất.



Russell Cross MD

Nên làm gì

Cuồng nhĩ (AF: atrial flutter) là một tình trạng loạn nhịp không phổ biến ở trẻ em, đặc biệt ở những trẻ không mắc bệnh tim bẩm sinh. ÀF dễ dàng bị bỏ qua ở nhóm tuổi này do tính hiếm hoi của nó và thực tế là nó có thể giả mạo như các rối loạn nhịp khác tùy thuộc vào mức độ dẫn truyền nhĩ thất (AV). AF được đặc trưng trên điện tâm đồ bởi sự xuất hiện của sóng F, điển hình có dạng “răng cưa” (Hình 121.1). Các sóng F thường có tần số 240 đến 360 nhịp mỗi phút (bpm), nhưng có thể chậm hơn. Đáp ứng của tâm thất đối với AF có thể rất khác nhau tùy thuộc vào sự dẫn truyền qua nút AV. Đáp ứng của tâm thất thường được mô tả như là tỷ số của sóng F với phức bộ QRS (2: 1, 3: 1, 4: 1, v.v.). Tỷ lệ dẫn truyền AV phổ biến nhất là 2: 1. Trong AF, các phức bộ QRS có hình thái bình thường nhưng xuất hiện ở một phần nào đó của sóng F tùy thuộc vào mức độ block AV.

 Khi có block AV đáng kể, việc chẩn đoán AF có thể xác định bởi các sóng F trên điện tâm đồ được thấy rõ hơn giữa các phức bộ QRS. Khi có block AV thấp, ví dụ như sự dẫn truyền 2: 1 hoặc 3: 1, những sóng F có thể khó phân biệt hơn (Hình 121.2). Trong những trường hợp này, nhịp xuất hiện có thể là nhịp xoang, với những con sóng F xuất hiện là sóng P và T của nhịp nhanh xoang. Ở những bệnh nhân có dẫn truyền 2: 1, sóng F thứ hai thường được che khuất bởi phức bộ QRS. Ngoài ra, AF cũng có thể bị nhầm lẫn với nhịp nhanh trên thất hoặc nhịp nhanh vào lại nút nhĩ thất do có sự tương tự trên điện tim đồ. Trẻ sơ sinh thường có dẫn truyền AV nhanh nên thường bị chẩn đoán nhầm là có nhịp nhanh xoang hoặc nhịp nhanh trên thất. Một điểm khác biệt quan trọng giữa nhịp nhanh xoang nhịp nhanh vào lại là tần số nhịp nhanh xoang thay đổi, trong khi tần số của AF và nhịp nhanh vòng vào lại không thay đổi. Do đó, quan sát chặt chẽ nhịp tim của bệnh nhân theo thời gian, cùng với việc điều trị các nguyên nhân cụ thể của nhịp xoang nhanh

(ví dụ: bolus dịch, thuốc giảm đau, hoặc hạ sốt nếu có chỉ định), có thể giúp làm rõ ràng sự có mặt của nhịp nhanh xoang.

 Hình 121. 1 Atrial flutter with variable high-grade atrioventricular (AV) block (flutter rate approximately 300 beats per minute). Atrial flutter waves are readily seen, as indicated by arrows.

Có thể khó phân biệt hơn rất nhiều giữa trường hợp AF với đáp ứng thất trái nhanh so với nhịp nhanh trên thất hoặc nhịp nhanh vòng vào lại. Cả hai sự loạn nhịp này có thể dẫn đến sự suy giảm huyết động hoặc suy tim sung huyết nếu không được điều trị. Ngoài ra, có nguy cơ phát triển huyết khối tâm nhĩ trong trường hợp AF kéo dài. Sự khác biệt của AF với nhịp nhanh vòng vào lại có thể được hỗ trợ bằng cách sử dụng adenosine. Adenosine là một nucleoside nội sinh ảnh hưởng đến dẫn truyền kali của tế bào và cũng có hiệu quả kháng adrenergic gián tiếp. Adenosine làm chậm nút xoang cũng như giảm dẫn truyền của nút AV. Sự chậm dẫn truyền của nút AV có thể được sử dụng để phân biệt AF với nhịp nhanh vòng vào lại. Trong trường hợp nhịp nhanh trên thất hoặc nhịp nhanh vòng vào lại, adenosine sẽ làm chậm dẫn truyền qua nút AV, một thành phần tạo nên vòng vào lại, và sẽ chấm dứt loạn nhịp. Mặt khác, adenosine có ảnh hưởng tương đối ít đối với dẫn truyền của mô tâm nhĩ, do đó sẽ không chấm dứt được AF. Tuy nhiên, adenosine có thể hỗ trợ chẩn đoán trong trường hợp AF vì nó sẽ tạo ra mức block AV cao hơn, do làm chậm đáp ứng thất và làm lộ sóng F có hình răng cưa trên điện tâm đồ (Hình 121.2)

Hình 121. 2 Atrial flutter at approximately 150 bpm, initially with 1:1 ventricular conduction. Note that initial tracing could be mistaken for sinus tachycardia, but flutter waves become apparent at end of tracing when AV conduction is blocked. Atrial flutter wave

Adenosine có thời gian bán hủy <10 giây vì nó được chuyển hóa nhanh chóng bởi hồng cầu cũng như nội mô mạch máu. Vì vậy, nó phải được chỉ định bolus nhanh vào một tĩnh mạch trung tâm thích hợp. Tác dụng phụ của adenosine bolus bao gồm đỏ bừng, đau đầu nhẹ, đau ngực, và khó thở, nhưng chúng là tự giới hạn do thời gian bán hủy của thuốc ngắn. Adenosine nên được sử dụng trong một môi trường có sẵn các thiết bị cấp cứu, vì nó có thể gây ra các rối loạn nhịp khác như rung nhĩ.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn