» Bài 72 – Không được sử dụng ibuprofen ở những BN SLE bởi vì nó có thể gây viêm màng não vô khuẩn do ibuprofen Bài 72 – Không được sử dụng ibuprofen ở những BN SLE bởi vì nó có thể gây viêm màng não vô khuẩn do ibuprofen – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 72 – Không được sử dụng ibuprofen ở những BN SLE bởi vì nó có thể gây viêm màng não vô khuẩn do ibuprofen



Johann Peterson MD

Phải làm gì?

NSAIDs thường được sử dụng trong nhiều bệnh khớp, bao gồm cả SLE. Mặc dù chúng được sử dụng phổ biến và không cần kê đơn, nhưng chúng là một nguyên nhân tiềm ẩn của những phản ứng phụ và cần được kê đơn cẩn thận.

Viêm màng não vô khuẩn (AM: Aseptic meningitis) có bối cảnh lâm sàng của viêm màng não (cứng cổ, đau đầum sốt, sợ ánh sáng, Kernig và Brudzinski) và tăng tế bào trong dịch não tủy (CSF: cerebrospinal fluid), nhưng không có tác nhân nhiễm trùng nào trong CSF. Do đó, nó là một chẩn đoán loại trừ, và hầu hết trường hợp sẽ cần kháng sinh theo kinh nghiệm trong khi chờ đợi kết quả nuôi cấy và XN tìm virus. Với sự phát triển của các XN tìm virus có độ nhạy tốt, nhiều trường hợp trước đây được phân loại AM, bây giờ đã được chẩn đoán là viêm màng não virus. Nhiễm trùng đường ruột (do coxsackievirus, echovirus, polio) là nguyên nhân phổ biến gây viêm màng não virus ở trẻ em. Quai bị và virus California cũng có thể gặp. Các nhiễm trùng cục bộ, như áp xe ngoài màng cứng, viêm tủy xương, và viêm xoang, có thể gây viêm màng não giống như AM. Và một tác nhân nhiễm trùng khác, như mycobacteria, malaria và các ký sinh trùng khác, nấm, spirochetes và Rickettsiae, có thể gây viêm màng não và có thể không xác định được bằng XN CSF.

 Có một số nguyên nhân được ghi nhận gây AM, bao gồm do thuốc, bệnh tự miễn, viêm màng não do khối u, Borrelia burgdorferi (bệnh Lyme), và hội chứng retrovirus cấp tính. Ibuprofen là loại thuốc phổ biến nhất gây AM do thuốc, và nguy cơ cao hơn ở những BN bị SLE hoặc mắc các bệnh tự miễn khác. Các NSAIDs khác cũng có liên quan, cũng như trimethoprim có hoặc không có sulfamethoxazole, cephalosporins và các kháng sinh khác, immunoglobulin đường TM (IVIG) và các loại thuốc khác. Không có gì đáng ngạc nhiên, một số thuốc nội tủy và chất cản quang cũng có liên quan. AM do NSAID có thể xảy ra chỉ sau 1 liều duy nhất, và thường xảy ra sau khi sử dụng ibuprofen, nhưng nó có thể xảy ra sau 2 năm sử dụng thường xuyên. Một số BN đã bị nhiều đợt cho đến khi được phát hiện. Trong hầu hết trường hợp, BN có thể được điều trị thành công với một NSAID khác, nhưng đã có một số báo cáo những trường hợp BN bị AM do nhiều loại NSAIDs khác nhau.

Những dữ liệu đã công bố không đủ để ước tính nguy cơ AM ở những BN khỏe mạnh hay ở những BN mắc bệnh khớp. Một tài liệu gần gây cho thấy 39% trường hợp BN bị SLE. Ở những BN bị SLE, việc tránh dùng ibuprofen như một thuốc first-line có thể hữu ích. Sàng lọc bệnh tự miễn ở những BN khỏe mạnh khác bị viêm màng não do NSAIDs cũng rất quan trọng.

Về mặt lâm sàng, hầu hết BN đều có hội chứng viêm màng não điển hình, mặc dù một số có triệu chứng viêm não, bao gồm dấu thần kinh khu trú, Babinski, hội chứng SIADH (SIADH: inappropriate secretion of antidiuretic hormone), mất thần kinh thính giác, thậm chí là hôn mê. Không có báo cáo nào về di chứng thần kinh vĩnh viễn. XN CSF thường cho thấy tăng tế bào dịch não tủy (9–5,000 WBCs/µL), thường là neutrophil chiếm hầu hết, nhưng thỉnh thoảng monocytes hay eosinophils chiếm ưu thế. Protein thường tăng, nhưng đường máu CFS thường bình thường. Không có kết quả CSF nào có thể chắc chắn loại trừ viêm màng não nhiễm khuẩn. Các triệu chứng có thể mất nhanh chóng (1-2 ngày) sau khi ngừng ibuprofen, những những bất thường của CSF có thể kéo dài. Các yếu tố có thể giúp phân biệt viêm màng não Lyme với AM do nguyên nhân khác là bệnh diễn tiến bán cấp, với thời gian đau đầu lâu hơn, tiền sử yếu cơ mặt hay bệnh lý dây TK sọ, và dĩ nhiên là ban đỏ migran (erythema migrans rash).


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net