Bài 65 – Cân nhắc chẩn đoán Kawasaki ở trẻ có bong vảy, sốt và phát ban | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa Bài 65 – Cân nhắc chẩn đoán Kawasaki ở trẻ có bong vảy, sốt và phát ban | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 65 – Cân nhắc chẩn đoán Kawasaki ở trẻ có bong vảy, sốt và phát ban



Lindsey Albrecht MD

Nên làm gì?

Bệnh Kawasaki là một bệnh mạch máu cấp tính biểu hiện bằng sốt và viêm da – niêm mạc chủ yếu gặp ở trẻ em. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh tim ở trẻ em tại Hoa Kỳ và các nước phát triển khác. Mặc dù các đặc điểm của bệnh Kawasaki có thể do nhiễm khuẩn hoặc di truyền, nhưng đa số không rõ ràng. Tỷ lệ mắc bệnh Kawasaki cao nhất ở người châu Á và Thái Bình Dương, thấp nhất ở người da trắng.

Vì không có xét nghiệm chẩn đoán cụ thể, nên chẩn đoán dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng cũng như các xét nghiệm. Chẩn đoán chính xác rất quan trọng, vì điều trị đúng cách có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong liên quan đến biến chứng tim.

Chẩn đoán cổ điển của bệnh Kawasaki cần sốt trong 5 ngày hoặc nhiều hơn và có bốn hoặc hơn trong 5 đặc điểm chính: thay đổi đầu chi, phát ban, thay đổi niêm mạc miệng, viêm kết mạc không xuất tiết 2 bên và nổi hạch vùng cổ. hình ảnh đặ cbieejt như đỏ da long bàn tay hoặc chân trong giai đoạn cấp tính. Có thể phù bàn tay và bàn chân. Hai đến ba tuần sau khi khởi phát bệnh, bệnh nhân có thể bị bong tróc vảy vùng quanh móng các đầu ngón tay và ngón chân. Ban trong bệnh Kawasaki thường là dạng sẩn không đặc hiệu, dù có triệu chứng giống mề đay hay hồng ban đa dạng. thường không đau và xuất hiện ngay khi bắt đầu sốt. kết mach có thể bị viêm, sung niêm mạc miệng, lưỡi hình quả dâu, lột, đỏ và nứt môi. Trong số các đặc điểm chính, viêm hạc lympho vùng cổ ít gặp nhất, phải có đường kính> 1,5 cm và thường là 1 bên

Ngoài những đặc điểm trên, có thể gặp viêm màng não vô khuẩn, đái mủ, đau bụng, tiêu chảy, viêm khớp, hiện tượng raynaud. Phình động mạch vành là biến chứng tim mạch hay gặp nhất, tỷ lệ khoảng 20-25% trẻ em nếu không được điều trị, có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ, nhồi máu và đột tử. Hầu như tất cả các ca tử vong do bệnh Kawasaki là do biến chứng tim, nguy cơ nhồi máu cơ tim cao nhất trong năm ngày đầu tiên sau khởi phát bệnh.

Trong các trường hợp không điển hình. Các xét nghiệm giúp nghi ngờ khi tăng thời gian máu lắng, CRP, tăng bạch cầu, thiếu máu, giảm albumin và tăng men gan. Tăng tiểu cầu là đặc trưng trong giai đoạn bán cấp. Bệnh Kawasaki không điển hình nên nghi ngờ nếu trẻ sốt trên 5 ngày và có 2 hay 3 đặc điểm chính. Đặc biệt nghi ở trẻ nhỏ chỉ có sốt. cần siêu âm tim đánh giá dị tật động mạch vành

Điều trị bệnh Kawasaki dùng 1 liều globulin miễn dịch tĩnh mạch (IVIG) (2g / kg) trong giai đoạn cấp để giảm tỷ lệ biến chứng phình động mạch vành từ 15% – 25% còn khoảng 5% các trường hợp. dùng thêm liều sau ngày 7-10 nếu bệnh nhân cố phình mạch, sốt dai dẳng

Lặp lại liều IVIG ở 10% vẫn sốt sau điều trị ban đầu. liều cao aspirin trong phase cấp giúp chống viêm và kháng tiểu cầu. liều thấp aspirin dùng sau liều cao cho đến khi không thấy bất thường động mạch vành trong 6-8 tuần sau khởi phát bệnh. Nó có thể được dùng tiếp tục lâu hơn sau đó nếu có tổn thương mạch vành trên siêu âm tim. 


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net