» Bài 61 – Những bệnh nhân dị ứng hải sản hay iod có an toàn không nếu dùng thuốc cản quang tĩnh mạch? Bài 61 – Những bệnh nhân dị ứng hải sản hay iod có an toàn không nếu dùng thuốc cản quang tĩnh mạch? – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 61 – Những bệnh nhân dị ứng hải sản hay iod có an toàn không nếu dùng thuốc cản quang tĩnh mạch?



Craig DeWolfe MD

Nên làm gì?

Tiền sử dị ứng hải sản, iodine povidone hoặc các chất có chứa iod khác không có giá trị tiên lượng phản ứng của bệnh nhân với thuốc cản quang. Bác sĩ cũng có thể khuyên bệnh nhân có dị ứng thuốc cản quang tiếp tục ăn các thực phẩm hoặc thuốc có iod. Mối liên quan giữa thực phẩm có iod và thuốc cản quang bắt nguồn từ 2 nghiên cứu vào đầu những năm 1970 báo cáo tỷ lệ dị ứng thuốc cản quang là 6% ở những người có dị ứng hải sản. Các báo cáo tiếp theo vẫn chưa xác nhận điều này. Thay vào đó, hội XQuang Hoa Kỳ, đã khuyến cáo dị ứng hải sản nên xem như các loại dị ứng khác trong đánh giá nguy cơ dị ứng thuốc cản quang với bệnh nhân. Thật không may, các báo cáo khẳng định chắc chắn rằng cần chú ý ở bệnh nhân dị ứng hải sản. Năm 2004, Confino-Cohen và Goldberg báo cáo rằng 77% các bác sĩ không dùng thuốc cản quang ở bệnh nhân tiền sử dị ứng hải sản hoặc nổi ban sau dùng thuốc có iod. 69% trong số họ có thể đã không giữ lại được vật liệu chống phóng xạ ở bệnh nhân có tiền sử dị ứng hải sản hoặc phát ban sau khi dùng kháng sinh có chứa iod. Hơn nữa, 69% trong số họ đã có những biện pháp phòng ngừa khi dùng thuốc sát trùng ở bệnh nhân tiền sử dị ứng với thuốc cản quang có iod (ICM).

ICM thường dùng trong chụp CT,  UIV và chụp mạch.

 Các phản ứng với ICM có liên quan đến phản vệ hoặc tác dụng hóa học gây độc. phản vệ xảy ra tự phát không lien quan tới nồng độ hay liều lượng thuốc. triệu chứng như nỏi mề đay, phù mạch, co thắt phế quản, tụt huyết áp, co giật và ngừng tim. Tác dụng lien quan tính chất hóa học của thuốc như giải phóng histamine và kích hoạt vận mạch như cảm giác nóng bừng, ngứa, mồm có vị kim loại và buồn nôn. Các phản ứng này phụ thuộc vào nồng độ và liều lượng của ICM. Các biểu hiện hiếm hơn như suy thận cấp, co giật, loạn nhịp tim, hoặc suy tim. Các phản ứng này là do các đáp ứng sinh lý của thuốc khi tiêm vào cơ thể.

Có một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phản ứng đối với ICM. Bệnh nhân suy nhược có nhiều khả năng có phản ứng bất lợi liên quan đến tác dụng gây độc, trong khi bệnh nhân có cơ địa dị ứng có nguy cơ tăng phản ứng phản vệ. Các nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có tiền sử dị ứng có nguy cơ phản vệ với ICM gấp đôi và tiền sử hen làm tăng nguy cơ gấp 5 lần. Bệnh nhân có tiền sử dị ứng ICM có nguy cơ phản vệ 3-8 lần. cần đánh giá tinh trạng huyết động, thần kinh, dinh dưỡng, dị ứng, hen và thuốc chẹn beta trước khi cho dùng ICM. Corticosteroid và thuốc kháng histamine cũng nên cân nhắc. ngoai ra nên chuẩn bị sẵn trường hợp dị ứng, phản vệ  trong vòng 20 phút đầu tiên tiêm ICM. May mắn thay, vì có chuẩn bị, tỷ lệ tử vong lien quan ICM giảm xuống còn 0,9 / 100.000 người dị ứng với hải sản hoặc iod không coi đặc biệt hơn các loại dị ứng khác khi đánh giá nguy cơ với ICM. Iốt là một chất cần cho sự sống, do đó không nên vội khẳng định bệnh nhân dị ứng với nó.

Nói tóm lại, những bệnh nhân có dị ứng với hải sản hoặc povidine có thể dùng ICM. Cũng như nếu tiền sử dị ứng ICM vẫn có thể tiếp tục ăn và dùng sản phẩm có iod.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn