Bài 58 – Phát hiện ra dấu hiệu phản vệ (quá mẫn type 1) và biết cách điều trị | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa Bài 58 – Phát hiện ra dấu hiệu phản vệ (quá mẫn type 1) và biết cách điều trị | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 58 – Phát hiện ra dấu hiệu phản vệ (quá mẫn type 1) và biết cách điều trị



Yolanda Lewis-Ragland MD

Nên làm gì?

Phản vê là phản ứng dị ứng cấp tính, ảnh hưởng nhiều cơ quan và nặng, còn gọi là quá mẫn type I. thuật ngữ này xuất phát từ gốc Hy Lạp ana (lại) và phylaxis (bảo vệ). Chứng quá mẫn xảy ra khi một người tiếp xúc với chất kích hoạt, gọi là kháng nguyên, mà chúng rất nhạy cảm. khi phơi nhiễm lại chất này sẽ gây phản ứng miễn dịch bảo vệ và gây hại

Phân loại

Gell và Coombs đã phân loại các phản ứng quá mẫn thành bốn loại:

 Quá mẫn type I các phản ứng loại I (phản ứng quá mẫn ngay lập tức) liên quan đến giải phóng histamine và chất trung gian khác từ tế bào mast và ưa bazo qua trung gian immunoglobulin (Ig).

 Quá mẫn type II (quá mẫn gây độc tế bào) liên quan tới kháng thể IgG hoặc IgM gắn với kháng nguyên bề mặt tế bào

 Quá mẫn type III (các phản ứng phức hợp miễn dịch) liên quan đến các phức hợp miễn dịch kháng nguyên – kháng thể lưu thông trong các mạch máu

 Quá mẫn type IV (tức là những phản ứng quá mẫn chậm, miễn dịch qua trung gian tế bào) lien quan tế bào T chứ không phải các kháng thể

Quá mẫn type I

Loại quá mẫn này rất nguy hiểm vì nó xảy ra ngay lập tức, đột ngột xuất hiện trong vòng 15-30 phút sau khi tiếp xúc, có thể đe dọa tính mang. Điều này giúp nhận ra được ngay kháng nguyên kích hoạt. quá mẫn type I liên quan hoạt động của IgE và các độc tố phản vệ khác, giải phóng histamine và chất trung gian khác từ tế bào mast. Giải phóng histamine gây giãn mạch và co thắt phế quản phổi

Dấu hiệu và Triệu chứng

Bệnh nhân quá mẫn có thể có các dấu hiệu và triệu chứng sau:

 suy Hô hấp

 Giảm huyết áp

 Ngất xỉu

 Bất tỉnh

 nổi mề đay

 nổi mẩn đỏ

 Phù mạch (sưng mặt, cổ và họng)

 chảy Nước mắt (do phù mạch và stressm)

 nôn

 Ngứa (ngứa)

 Tiêu chảy

 Đau bụng

 lo âu

Điều trị

Điều đầu tiên cần đánh giá ở bệnh nhân có phản vệ là nguyên nhân gây ra nếu có thể xác định và ngừng tiếp xúc. Điểm này thường bị bỏ qua nhưng là vấn đề cốt lõi trong điều trị, tiếp theo cần đánh giá đường thở vì co thắt đường thở nhanh chóng có thể dẫn tới suy hô hấp và ngừng thở

Bệnh nhân suy hô hấp có thể cần đặt nội khí quản. Thỉnh thoảng, co thắt thanh quản nặng gây khó khan cho đặt NKQ cần phải mở khí quản. mức độ ý thức và các dấu hiệu sinh tồn có thể định hướng cho xử trí việc tracheostomy. Mức độ ý thức và các dấu hiệu quan trọng có thể giúp chỉ đạo các can thiệp.

Xử trí

 Epinephrine nên được dùng ngay lập tức. Epinephrine ngăn co thắt đường thở, kích thích tim tiếp tục hoạt động. nó tác động lên receptor β2-adrenergic trong phổi như một thuốc giãn phế quản mạnh. Mạch nhanh do thuốc kích thích receptor β1-adrenergic của tim. Dùng epinephrine lặp đi lặp lại có thể gây mạch nhanh và rối loạn nhịp tim. Dùng liều 0,3 đến 0,5 mL pha loãng 1: 1000 thường được áp dụng.

 bù dịch đẳng trương để nhanh nâng huyết áp

 Có thể dùng các thuốc vận mạch (như dopamine, norepinephrine) nếu tụt huyết áp kéo dài  và không đáp ứng với bù dịch

 Thuốc chẹn thụ thể H1 và H2 có thể làm giảm ngứa và nổi mề đay. Cimetidine, khi kết hợp với bất kỳ loại thuốc kháng histamin H1 nào, sẽ ngăn tụt huyết áp do histamin gây ra.

 khí dung Albuterol có thể dùng để ngăn co thắt phế quản.

 Corticosteroid giúp ngăn phase 2 của phản vệ 

Bệnh nhân thường được theo dõi tại viện vì ngăn phase 2 và tái phát triệu chứng, ngay cả sau khi bệnh nhân ổn định .


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net