» Bài 36 – Luôn tự tính toán liều thuốc Bài 36 – Luôn tự tính toán liều thuốc – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 36 – Luôn tự tính toán liều thuốc



Michael S. Potter Nickie Niforatos MD Heidi Herrera MD Anthony Slonim MD

Nên làm gì?

Lỗi trong y học hiện đại đặc biệt là lỗi về tính toán liều thuốc với trẻ em. Lỗi dùng thuốc dẫn đến thời gian nằm viện kéo dai, điều trị không cần thiết thậm chí tử vong. Bệnh nhân nhi khoa đặc biệt dễ bị những sai sót này vì liều thuốc tính theo cân nặng hoặc diện tích cơ thể của trẻ (Hình 61.1). không như người lớn, dược động học 1 số loại thuốc phụ thuộc vào tuổi và cần phải có sự thay đổi trong kê toa (Hình 61.1).

Để chống lại các lỗi dùng thuốc, bác sĩ nên tự mình tính toán liều thuốc theo các tài liệu tham khảo và guideline thích hợp tại thời điểm kê đơn

Wt: 13 kg dị ứng: không

Erythromycin 150 mg (12 mg / kg / liều) uống mỗi 6 giờ

Ngoài việc nhận ra lỗi trong đơn này, lỗi về số lượng cũng có thể nhận ra. Trong ví dụ trên, một liều điều trị của erythromycin với nhiễm trùng cấp tính là 50 mg / kg / ngày; tuy nhiên, việc sử dụng erythromycin như thuốc tăng nhu động ruột dùng với liều 20 mg / kg / ngày. Một số nguồn có sẵn để giúp bác sĩ xác nhận liều thuốc, bao gồm Sổ tay Harriet Lane và phần mềm (PDA), chẳng hạn như Epocrates.

Hình 16. 1 Factors Placing Pediatric Patients at Increased Risk for Adverse Drug Reactions

– Different and changitig phairuacoldjKtic parameter* between patients at various age* and stages ofmalurational development.

* Need lor calculation of individualized doses based on (lie patient’s age. weight fmg/kg). body surface area (mg/mi), and clinical condition.

■          Lack of available dosage forms and concentrations appropriate for administration to neonates, infants, and children. Frequently, dosage formula Hons are extemporaneously compounded and lack stability, compatibility, oc bioavailability data,

■          Need of precise dose ineasurement and appropriate drug riel ¡very systems.

■          Lack of published in forma tin ii (IT food and Drug Administration-appimed labeling regarding dosing, pharmacokinetics, safely, efficacy, and clinical uw of drugs in the pediatric population.

Nhiều bệnh viện đã khởi xướng các chương trình phần mềm (CPOE) để giúp kê đơn chuẩn. Các hệ thống này cho phép dùng thuốc với liều lượng dựa trên (mg / kg) và cũng cho phép chương trình thực hiện tính toán thích hợp. Mặc dù các hệ thống này rất quan trọng, nhưng bác sĩ phải lựa chọn liều thích hợp để có hiệu quả mong muốn. Ví dụ, khi dùng ceftriaxone, có thể nhắc tự động 50 mg / kg tiêm tĩnh mạch mỗi ngày; tuy nhiên, nếu điều trị cho bệnh nhân viêm màng não, bác sĩ phải nhận ra rằng liều kháng sinh này nên là 50 mg / kg / liều IV hai lần một ngày (BID).

Cho dù bác sĩ đang sử dụng hệ thống CPOE hay đơn thuốc bằng giấy và bút, thì cần cân nhắc một số biện pháp an toàn bổ sung để tính liều thuốc. Một bác sĩ phải nhận ra nếu tính liều/kg, liều dành cho người lớn khi trọng lượng cơ thể trung bình từ 60-75kg. Nói chung, một bệnh nhân nhi khoa có trọng lượng> 60 kg được kê toa thuốc như liều người lớn cứ không dùng liều/kg. Tuy nhiên hầu như các loại thuốc đều có tổng liều hàng ngày được khuyến cáo, ngay cả ở trẻ cân nặng < 60kg. Để minh họa cho điểm này, hãy xem xét điều trị viêm màng não ở bệnh nhân 45kg. Liều tối đa của ceftriaxone là 4 g / 24 giờ, vì thế trẻ này nên được cho thuốc kháng sinh theo liều tổng hàng ngày (2000 mg BID) chứ không phải là liều đã được tính toán (50 mg / kg BID, nghĩa là 2,250 mg BID) .

Đường uống và đường bài tiết cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định liều dùng thuốc. Nói chung, tính sinh khả dụng của thuốc cao hơn khi được tiêm tĩnh mạch (tức là, IV) hơn uống (nghĩa là bằng miệng [PO]). Thông thường, sự khác biệt nhỏ và liều PO / IV là như nhau; tuy nhiên, trong trường hợp có sự khác biệt đáng kể về sinh khả dụng, liều lượng khác nhau dựa trên đường dùng thuốc. Ví dụ, liều ban đầu của labetalol là 2 mg / kg / liều khi dùng đường uống, nhưng chỉ 0,2 mg / kg / liều, khi tiêm tĩnh mạch, có sự khác biệt 10 lần về liều. Đường thải trừ phù hợp nhất với bệnh nhân suy thận hoặc suy gan. Ở bệnh nhân suy thận, thuốc có thể được điều chỉnh bằng cách tăng khoảng thời gian dùng thuốc (tức là, từ 4 giờ đến 8 giờ một lần) hoặc bằng cách giảm liều (tức là, từ 4 mg / kg đến 2 mg / kg). Điều chỉnh liều lượng ít gặp hơn trong suy gan. Thay vì thay đổi liều thuốc, sự lựa chọn thuốc được chú ý nhiều hơn để bảo tồn chức năng; ví dụ như sử dụng các thuốc chống viêm không steroid hơn là acetaminophen để giảm đau hoặc sốt.

Dạng thuốc (uống so với hỗn dịch) cũng cần cho thích hợp. Trong những trường hợp này, việc chuyển từ liều lượng (mg) sang thể tích (ml) cần tính toàn chính xác. Ví dụ amoxicillin: có dạng 200 mg / 5 mL hoặc 400 mg / 5 mL. Một bệnh nhân được kê toa 400 mg amoxicillin sẽ được hướng dẫn uống 10 mL dung dịch đầu tiên nhưng chỉ 5 mL lần uống thứ hai.

Nhiều sai lầm có thể được thực hiện trong việc tính liều thông thường. để giảm nguy cơ này cần tự tính toán liều thuốc và xem chiến lược và mục tiêu điều trị là gì.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn