» Bài 165 – Biết rằng đau hông ở trẻ em có thể là một tình huống chẩn đoán khó khăn cho các bác sĩ Bài 165 – Biết rằng đau hông ở trẻ em có thể là một tình huống chẩn đoán khó khăn cho các bác sĩ – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 165 – Biết rằng đau hông ở trẻ em có thể là một tình huống chẩn đoán khó khăn cho các bác sĩ



Laura Hufford MD

Nên làm gì?

Mặc dù hầu hết các tình trạng gây đau hông đều lành tính và tự hạn chế, đánh giá bệnh lý và điều trị nhanh thường rất quan trọng và cần thiết để ngăn ngừa tàn tật và tử vong.

Bệnh nhân có biểu hiện đi khập khiễng và hông giảm khả năng xoay trong, có thể có trợt đầu trên xương đùi. Trong bệnh này, đầu trên xương đùi bị chuyển ra sau. Điều quan trọng là đau hông có thể lan đến đầu gối. Độ tuổi biểu hiện trung bình là 12 tuổi, và các yếu tố nguy cơ bao gồm chứng béo phì, suy giáp và thiếu hormone tăng trưởng. Một khi chẩn đoán được xác nhận bằng chụp X quang, bệnh nhân nên được đặt trên nạng, ở trạng thái không mang trọng lượng và hội chẩn chỉnh hình để có thể phẫu thuật.

Hoại tử vô mạch chỏm xương đùi nguyên phát được gọi là bệnh Legg-Calvé-Perthes (LCPD). Tuổi biểu hiện nhiều là từ 5 đến 7 tuổi, và phổ biến ở trẻ trai hơn trẻ gái. Bệnh nhân có thể bắt đầu với một sự khập khiễng, khi hoại tử tiến triển, xuất hiện đau hông, đùi, hoặc đau đầu gối. Khi thăm khám, trẻ bị đau khi xoay trong và dạng, và thông thường, XQ thương quy (dấu chân ếch) đủ để chẩn đoán. Liệu pháp điều trị cho LCPD vẫn còn nhiều tranh cãi. Trên thực tế, 70% đến 90% bệnh nhân có chuyển động tốt và không có đau ở 20 năm theo dõi bất kể điều trị ban đầu. Do đó, nếu nghi ngờ LCPD, bệnh nhân nên được đặt vào tình trạng không mang trọng lượng và giới thiệu đến chỉnh hình để đánh giá và quản lý thêm.

Viêm màng hoạt dịch thoáng qua là một chứng viêm tự giới hạn của lớp hoạt dịch lót bên trong khớp hông. Nó xảy ra ở trẻ trai gấp đôi ở trẻ gái và thường gặp ở trẻ từ 3 đến 8 tuổi. Bệnh nhân thường không có sốt và có biểu hiện đi khập khiễng và đau hông một bên. Tuy nhiên, một tỷ lệ nhỏ trẻ em bị viêm màng hoạt dịch thoáng qua 2 bên. Một nghiên cứu cho thấy 25% trẻ em bị viêm thoái hoá khớp thoáng qua có tràn dịch khớp hoặc sưng màng hoạt dịch phía đối diện. Đau thường kéo dài từ 3 đến 10 ngày và được điều trị bằng thuốc chống viêm và nghỉ ngơi.

Viêm khớp nhiễm khuẩn là một nhiễm trùng do vi khuẩn trong khoang khớp và có thể dẫn đến tàn tật vĩnh viễn và tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Bệnh nhân thường không biểu hiện sốt và dễ kích thích hoặc ngủ lịm. Hông thường được giữ ở vị trí gập, xoay ngoài, dạng và bị giảm khả năng di chuyển. Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán viêm khớp nhiễm khuẩn bao gồm chọc hút dịch khớp. Dịch khớp nói chung là đục, với số lượng bạch cầu > 50.000 / μL và neutrophilic ưu thế. Cấy dịch có vi khuẩn gây bệnh trên 70% bệnh nhân. Tình trạng này là một trường hợp khẩn cấp y tế vì bất kỳ sự chậm trễ nào trong việc làm sạch khớp bị nhiễm trùng bằng phẫu thuật có liên quan đến hoại tử khớp và viêm tủy xương.

Phân biệt các nguyên nhân gây ra đau hông là một nhiệm vụ khó khăn nhưng quan trọng. Chụp X quang phim phẳng có thể giúp loại trừ các bệnh cơ xương khớp như LCPD và chứng trợt đầu trên xương đùi (SCFE). Tuy nhiên, phân biệt giữa viêm màng hoạt dịch thoáng qua và nhiễm khuẩn khớp hông có thể khó khăn. Một nghiên cứu của Kocher et al. khuyến cáo sử dụng bốn yếu tố dự báo để xác định khả năng bị viêm khớp nhiễm khuẩn. Các yếu tố đó bao gồm sốt 38,5 ° C, không chịu được trọng lượng, tốc độ lắng hồng cầu ≥ 40 và số lượng bạch cầu huyết thanh ≥12,000 tế bào / mL3. Nghiên cứu của Kocher cho thấy nếu có ba hoặc bốn yếu tố dự báo, thì > 93% là viêm khớp nhiễm khuẩn và nên được chọc dịch khớp làm XN và có thể phải phẫu thuật mở khớp. Nếu bệnh nhân có hai yếu tố dự báo, Kocher khuyên bạn nên chọc hút dịch khớp dưới hướng dẫn của siêu âm và sau đó điều trị theo kết quả XN dịch khớp.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn