» Bài 160 – Biết cách điều chỉnh sự tăng bạch cầu khi đối mặt với dịch não tủy (CSF) có máu Bài 160 – Biết cách điều chỉnh sự tăng bạch cầu khi đối mặt với dịch não tủy (CSF) có máu – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 160 – Biết cách điều chỉnh sự tăng bạch cầu khi đối mặt với dịch não tủy (CSF) có máu



Megha Shah Fitzpatrick MD

What to Do – Interpret the Data

CSF bao gồm nước > 99%. Các thành phần khác của CSF bao gồm các ion chính, oxy, đường, lactate, protein (ví dụ albumin, globulins), amino axit, urê, amoniac, creatinin, chất béo, chất dẫn truyền thần kinh và các chất chuyển hóa, hormon và vitamin. Hàng rào máu-CSF bảo vệ não và CSF khỏi những nguy cơ tiềm ẩn hoặc chất độc hại trong máu. Chỉ có các chất béo có thể khuếch tán không hạn chế qua hàng rào máu-CSF. Thêm vào đó, các chất như glucose (ưa mỡ) được vận chuyển qua hàng rào máu-CSF vào không gian CSF thông qua sự khuếch tán thuận tiện bằng cách sử dụng một chất mang proteolipid. Nếu sự toàn vẹn của hàng rào máu-CSF bị tổn hại, lượng protein, tế bào và glucose bất thường có thể có trong CSF.

Thành phần của CSF và cơ chế vận chuyển qua rào cản này là rất quan trọng khi đánh giá các mẫu dịch CSF thu được bằng chọc dò tủy sống (LP) nhằm chẩn đoán và điều trị bệnh thần kinh trung ương (CNS). Các XN CSF phổ biến nhất thu được bao gồm nhuộm gram và nuôi cấy, đếm số lượng tế bào và phân biệt, cũng như nồng độ glucose và protein. Kết quả bất thường của những XN này giúp xác định xem có phải bệnh thần kinh trung ương hay không và cũng có thể giúp xác định được loại bệnh nào. CSF để phân tích thu được thông qua LP và phải trong và không màu với lượng nước lớn nếu không có bệnh CNS. CSF thường không có tế bào hồng cầu (RBCs) và 0 đến 1 bạch cầu (WBCs). Thông thường, LP có thể là một thủ thuật đầy thách thức về mặt kỹ thuật và không quen làm có thể gây ra chấn thương nhỏ cho hàng rào máu-CSF, dẫn đến chảy máu trong CSF. Kết quả là, một số giá trị trong phòng thí nghiệm, chẳng hạn như số lượng protein và số lượng WBC, có thể tăng thứ phát với số lượng hồng cầu tăng lên của CSF, nhưng không nhất thiết là thứ phát do bệnh CNS, chẳng hạn như nhiễm trùng hoặc viêm.

 Điều quan trọng là phải tính đến sự hiện diện của máu khi đưa ra hoặc loại ra các loại bệnh CNS khác nhau. Điều này đạt được bằng cách sử dụng một yếu tố điều chỉnh ở dạng một tỷ lệ. Đối với mỗi 700 RBCs trên mỗi microliter, có 1 WBC cho mỗi microliter. Nếu số lượng WBC vượt quá tỷ lệ này, cần phải kiểm tra thêm một nguyên nhân khác gây tăng bạch cầu.

Ví dụ, trong đánh giá sốt, đặc biệt ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, LP là một công cụ chẩn đoán phổ biến dùng để tìm kiếm sự có mặt của viêm màng não. Mặc dù máu trong CSF có thể thứ phát từ xuất huyết dưới nhện có thể không phổ biến, hoặc do chấn thương từ chọc dò tủy thỉnh thoảng xảy ra. Sử dụng tỷ số 700 RBC cho mỗi 1 WBC trên mỗi microliter của CSF giúp phân biệt nguyên nhân gây tăng bạch cầu CSF trước khi sử dụng một đợt kháng sinh cho trẻ và cho nhập viện do chẩn đoán viêm màng não cho một tình trạng chấn thương do chọc dò tủy sống.

Một xét nghiệm lần thứ hai được sử dụng để tìm bệnh CNS là glucose CSF. Glucose CSF thường là 60% nồng độ glucose trong huyết tương. Mặc dù mức glucose CSF tăng cao (hyperglycorrhachia) là kết quả của glucose huyết tương cao, mức glucose CSF thấp (hypoglycorrhachia) có thể là do nhiều nguyên nhân, bao gồm cả lượng đường trong máu thấp (hypoglycemia). Nếu đường huyết CSF thấp không phải là do hạ đường huyết trong máu, nó có thể chỉ ra sự thiếu hụt vận chuyển glucose hoặc tăng cường sử dụng glucose do não  bị nhiễm trùng hoặc bị bệnh thần kinh trung ương khác.

Cùng nhau, glucose CSF và WBC là các xét nghiệm chẩn đoán hữu ích cho các bất thường CNS, chẳng hạn như nhiễm trùng. Ngoài biểu hiện lâm sàng và kết quả của các XN CSF thông thường khác, như mức độ protein, nhuộm Gram và cấy, khả năng giải thích chính xác các giá trị XN CSF bất thường rất hữu ích để chẩn đoán bệnh CNS.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn