Bài 156 – Làm XN natri và glucose ở những BN co giật tái diễn | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa Bài 156 – Làm XN natri và glucose ở những BN co giật tái diễn | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 156 – Làm XN natri và glucose ở những BN co giật tái diễn



Caroline Rassbach MD

Nên làm gì?

Co giật là một trong những rối loạn thần kinh phổ biến nhất ảnh hưởng đến trẻ em. Phần lớn là những cơn co giật ngắn, tự giới hạn, xảy ra thứ phát sau các rối loạn có nguồn gốc từ bên ngoài não. Ví dụ như sốt cao, nhiễm trùng, chấn thương đầu, thiếu oxy tổ chức và ngộ độc. Ít hơn 1/3 số động kinh ở trẻ em xảy ra do động kinh. Khi một đứa trẻ bị co giật lần đầu tiên, hoặc có cơn co giật trước đó biểu biện co giật kéo dài, nên xem xét các nguyên nhân chuyển hóa. Cần XN nồng độ đường huyết và natri trong huyết thanh ở trẻ.

Đánh giá ban đầu của bất kỳ đứa trẻ nào bị động kinh nên bao gồm đánh giá đường thở, hô hấp và tuần hoàn (ABCs). Nên lấy các dấu hiệu sống, đặt monitoring tim và bổ sung oxy. Sau đó khai thác bệnh sử chi tiết và tham khám nhanh chóng, bao gồm khám thần kinh, tìm kiếm manh mối về nguyên nhân của cơn co giật. Các tình trạng đe dọa đến mạng sống, như viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, chấn thương đầu và ăn phải độc tố, nên được xem xét trong chẩn đoán phân biệt.

Khi co giật kéo dài > 5 phút, cần phải lấy được đường tĩnh mạch, lấy đường huyết và nồng độ natri huyết thanh. Canxi, phốt pho, magiê, urê máu, và công thức máu cũng có thể được chỉ định. Nồng độ độc chất trong nước tiểu và nồng độ thuốc chống co giật trong huyết thanh có thể hữu ích. Một benzodiazepine như lorazepam hoặc barbiturate là chỉ định hàng đầu để ngăn chặn cơn co giật. Lorazepam có thể được lặp lại mỗi 10 đến 15 phút nếu cần.

Nếu cơn co giật tiếp tục > 10 phút, nên dùng thuốc chống co giật thứ hai, như phenobarbital hoặc phenytoin. Các rối loạn chuyển hóa, như hạ đường huyết và hạ natri huyết, nên được điều trị ngay khi được chẩn đoán.

Khi cơn co giật kéo dài > 30 phút, nó được gọi là trạng thái động kinh. Chỉ định thuốc chống co giật tác dụng kéo dài được chỉ định cho trạng thái động kinh. Ngoài ra, bác sĩ nên chuẩn bị đặt nội khí quản và gây mê toàn thân khi cơn động kinh kéo dài 45 phút.

Các biến chứng của trạng thái động kinh bao gồm thiếu oxy tổ chức, toan acid lactic, tăng kali máu, hạ đường huyết, sốc, tăng thân nhiệt ác tính (hyperpyrexia), suy thận và suy hô hấp, và tử vong.

Hạ đường huyết và hạ natri huyết là những rối loạn chuyển hóa thường xảy ra nhất gây ra co giật. Hạ đường huyết xảy ra phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh ở tình trạng thiếu oxy tổ chức, nhiễm độc máu (toxemia), đái tháo đường thai nghén, hoặc sinh thường. Ở trẻ lớn hơn, nó xảy ra do kiêng ăn lâu, kém hấp thu và suy dinh dưỡng, bệnh hệ thống, và tăng insulin máu. Hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh có biểu hiện như xanh tím, ngưng thở, hạ thân nhiệt, hạ huyết áp, thiếu ăn, ngủ lịm đi, hoặc co giật. Ở trẻ lớn hơn, dấu hiệu hạ đường huyết bao gồm lo âu, nhịp tim nhanh, đổ mồ hôi, run vì hốt hoảng (tremulousness), yếu cơ, đói và co giật. Ở mọi lứa tuổi, hạ đường huyết nên được coi là nguyên nhân của một cơn co giật. Co giật thứ phát do hạ đường huyết nên được điều trị tiêm tĩnh mạch với 2 mL/kg đường glucose 50%.

Hạ natri máu, một nguyên nhân trao đổi chất khác gây co giật, là một trong những rối loạn điện giải phổ biến nhất xảy ra trong bệnh viện. Nó thường là kết quả của lượng nước dư thừa cùng với sự bài tiết nước kém.

Các ví dụ bao gồm hội chứng tiết hormone ADH không thích hợp (SIADH), giảm natri huyết sau mổ, ngộ độc nước, pha loãng quá mức sữa bột trẻ sơ sinh và sử dụng lợi tiểu. Khi hạ natri máu xảy ra, nước sẽ chuyển vào trong khoang nội bào, dẫn đến phù tế bào. Điều này có thể có biểu hiện lâm sàng như phù não và bệnh não do đau đầu, buồn nôn, nôn mửa, và yếu cơ. Nó có thể tiến triển đến tình trạng tinh thần thay đổi, co giật, ngừng hô hấp và thoát vị não.

Giảm natri huyết có triệu chứng là một tình trạng cấp cứu và cần được điều trị bằng dung dịch muối ưu trương 3%. Những BN này hoặc những BN có áp lực nội sọ tăng, dung dịch muối ưu trương nên được truyền nhanh chóng để tăng nồng độ natri huyết thanh từ 4 đến 8 mEq/L trong giờ đầu tiên hoặc cho đến khi ngừng co giật. Đối với các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn, dung dịch muối ưu trương nên được truyền với mục tiêu tăng nồng độ natri huyết thanh lên 1 mEq/L/h. Nói chung, 1 mL/kg nước muối ưu trương sẽ làm tăng nồng độ natri huyết thanh lên 1 mEq / L. Các bác sĩ nên biết rằng việc điều chỉnh nhanh chóng lượng natri máu quá nhanh có thể gây ra sự tàn phá myeline não nghiêm trọng.

Các bác sĩ nên nhớ xem xét các rối loạn chuyển hóa ở bệnh nhân co giật. Nên kiểm tra hàm lượng glucose và natri huyết thanh cho tất cả các bệnh nhân bị co giật kéo dài hoặc tái diễn.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net