» Bài 155 – Khi có lo ngại về sự hư hại của shunt não thất-ổ bụng (VPS: ventriculoperitoneal shunt), dựa hoàn toàn vào chụp cắt lớp vi tính (CT) đầu tiên và shunt series (chụp film để quan sát toàn bộ shunt) sẽ bỏ sót khoảng 30% trường hợp Bài 155 – Khi có lo ngại về sự hư hại của shunt não thất-ổ bụng (VPS: ventriculoperitoneal shunt), dựa hoàn toàn vào chụp cắt lớp vi tính (CT) đầu tiên và shunt series (chụp film để quan sát toàn bộ shunt) sẽ bỏ sót khoảng 30% trường hợp – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 155 – Khi có lo ngại về sự hư hại của shunt não thất-ổ bụng (VPS: ventriculoperitoneal shunt), dựa hoàn toàn vào chụp cắt lớp vi tính (CT) đầu tiên và shunt series (chụp film để quan sát toàn bộ shunt) sẽ bỏ sót khoảng 30% trường hợp



David Stockwell MD

Nên làm gì?

Lấy bệnh sử và thăm khám đầy đủ, đánh giá các XN điện quang và các so sánh chúng và kết hợp tất cả các thông tin này để chẩn đoán chính xác.

VPSs là một thiết bị tương đối phổ biến ở khoa nhi. Như với bất kỳ thiết bị nhân tạo nào được đặt trong cơ thể, có thể xảy ra trục trặc. Bỏ sót chẩn đoán sự trục trặc shunt có thể dẫn đến tổn thương thần kinh vĩnh viễn hoặc tử vong. Thật không may là chẩn đoán của shunt hư hại không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Các kỹ thuật phổ biến sử dụng để chẩn đoán sự cố của shunt là sự kết hợp của bệnh sử, khám lâm sàng và XN hình ảnh. Tuy nhiên, thường thì quyết định cuối cùng là dựa trên CT đầu và “shunt series”. Chương này sẽ giải thích việc chỉ dựa hoàn toàn vào những kết quả đó sẽ dẫn đến khoảng một phần ba trường hợp bị bỏ sót.

Shunt bị hư không do nhiễm trùng xảy ra do tắc nghẽn, hư hỏng cơ học (ví dụ, ngắt kết nối, ống nứt, đặt nhầm vị trí, hoặc di lệch của shunt), thoát dịch quá mức, thoát dịch não tủy từ nơi khác hơn là từ shunt, chia ngăn trong hệ thống não thất, và các nguyên nhân từ ổ bụng . Thời gian của sự cố có thể giúp chẩn đoán loại shunt hư hại. Sự tắc nghẽn của hệ thống shunt có thể xảy ra bất cứ lúc nào sau khi đặt và tại bất kỳ vị trí nào dọc theo shunt. Sự trục trặc sớm thường là do đặt nhầm vị trí, ngắt kết nối, hoặc sự di lệch của các thành phần shunt. Các nguyên nhân thường gặp của hư hại muộn bao gồm gãy ống, thoát dịch qua shunt quá mức , não thuất chia ngăn, và sự xói mòn phần đầu xa của ống vào một đường rỗng trong ổ bụng.

  Bằng chứng hình ảnh của sự cố ở shunt điển hình thường được quan sát thấy trên XQ hoặc CT. Hình ảnh X quang toàn bộ shunt, được gọi là shunt series, giúp xác định một sự gián đoạn cơ học của shunt.

Nó thường sẽ cho thấy bị hỏng ống hoặc ngắt kết nối. Vị trí phổ biến cho các vết nứt là gần xương đòn hoặc xương sườn dưới.

Chụp cắt lớp vi tính cho thấy có bằng chứng tăng kích thước não thất và cho thấy vị trí đặt ống thông trong não thất. Hư shunt biểu hiện trên CT scan đầu bằng cách tăng kích thước não thất. Cần thiết để so sánh các XN hiện tại với XN thu được sau khi đặt shunt thành công. Một số nghiên cứu lưu ý rằng các CT đầu hiện tại đã được đọc không chính xác như bình thường khi so sánh với các CT ban đầu vì việc so sánh được thực hiện tại một thời điểm khác của shunt bị hư.

Khi đánh giá CT đầu, điều quan trọng là nhận ra rằng kích thước não thất bình thường hoặc thậm chí các não thất nhỏ không loại trừ được rối loạn chức năng shunt. Vì lý do này, chụp CT và chụp cộng hưởng từ không nên được sử dụng như phương pháp chẩn đoán xác định. Một số nguyên nhân của não thất nhỏ khác ngoài hư shunt bao gồm sự tuân thủ kém, thoát dịch quá mức, hội chứng khe hở não thất, trục trặc shunt từng đợt.

Khi kết quả cho thấy não thất lớn, cần phải nỗ lực để tìm hiểu xem não thất trước đây có kích thước nhỏ hơn không, từ đó cho thấy có trục trặc shunt tái diễn.

Tất cả các kết quả trước đây cần được xem xét và so sánh với hiện tại. Hơn nữa, điều quan trọng là phải biết biểu hiện so sánh nào cho thấy hoạt động bình thường. Cuối cùng, ngay cả khi các não thất không bao giờ thay đổi về kích thước, sự hiện diện của các não thất lớn vẫn làm tăng nghi ngờ về sự hư hại của shunt.

Ở những bệnh nhân có nghi ngờ lâm sàng cao đối với hư shunt nhưng các XN hình ảnh không xác định được, các XN sâu hơn có thể bao gồm chọc dò shunt, theo dõi áp lực nội sọ, nghiên cứu tình trạng thông của shunt, quan sát thời gian dài trong bệnh viện và thậm chí đôi khi phải phẫu thuật thăm dò.

Đánh giá sự cố shunt là rất khó; chắc chắn các thiết bị của phẫu thuật thần kinh nên được đánh giá sớm ở BN. Thật không may, các nghiên cứu hình ảnh vẫn là trụ cột của việc đánh giá này không phải là không sai sót.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn