» Bài 154 – Hạn chế hoạt động của trẻ bị chấn động não để tránh tổn thương não tích tụ và để ngăn ngừa hội chứng va chạm thứ phát (secondimpact syndrome) Bài 154 – Hạn chế hoạt động của trẻ bị chấn động não để tránh tổn thương não tích tụ và để ngăn ngừa hội chứng va chạm thứ phát (secondimpact syndrome) – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 154 – Hạn chế hoạt động của trẻ bị chấn động não để tránh tổn thương não tích tụ và để ngăn ngừa hội chứng va chạm thứ phát (secondimpact syndrome)



Michael Clemmens MD

What to Do – Take Action

Chấn động não được định nghĩa là một chấn thương kín vùng đầu liên quan đến sự thay đổi thoáng qua về tình trạng tinh thần hoặc chức năng thần kinh, có thể hoặc không kèm theo mất ý thức (LOC). Ở trẻ em, nguyên nhân của chấn động não là một biến số và chịu ảnh hưởng bởi tuổi tác. Trẻ sơ sinh và trẻ em thường bị chấn động não sau khi ngã từ trên cao. Trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên có thể bị chấn động não do hoạt động thể thao. Lạm dụng trẻ em phải luôn được xem xét trong chẩn đoán phân biệt tổn thương ở đầu, đặc biệt ở trẻ em dưới 2 tuổi, là những trẻ có nguy cơ bị hội chứng lắc và chấn thương kín vùng đầu.

Bệnh sử đầy đủ và chi tiết, nhấn mạnh đến cơ chế chấn thương, thời gian biểu hiện của LOC, là một phần quan trọng của chấn thương đầu và đánh giá chấn động não. Đối với thương tích do ngã, chiều cao từ vị trí rơi  và vị trí đầu đập xuống là hai yếu tố chính để xác định mức độ của lực phát sinh khi rơi. Mức độ của lực đập là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ thương tích nghiêm trọng. Ví dụ, một ngã từ độ cao 4-feet rơi xuống bê tông có thể tạo ra lực nhiều hơn là một cú ngã 8 feet trên các mảnh gỗ. Một bệnh sử không phù hợp hoặc không khả thi sẽ làm tăng nghi ngờ thương tích do bạo hành.

Các triệu chứng tức thời phổ biến nhất của sự chấn động là sự lú lẫn và mất trí nhớ, mặc dù có thể thấy một loạt các dấu hiệu thần kinh khác. Chúng bao gồm nhức đầu, chóng mặt, nôn mửa, tiếp xúc chậm, phối hợp kém, LOC và rối loạn khả năng cảm xúc. Sau chấn thương, trẻ có thể biểu hiện triệu chứng sau chấn động não (PCS: postconcussive symptoms), có thể tồn tại trong nhiều ngày, vài tuần hoặc thậm chí vài tháng. Những triệu chứng này có thể biểu hiện như là các triệu chứng cơ thể (somatic complaints), thay đổi cảm xúc hoặc hành vi, hoặc các vấn đề về nhận thức. Bệnh sử chi tiết và thăm khám thần kinh thích hợp theo độ tuổi, với sự nhấn mạnh vào tình trạng tinh thần, từ đó tìm ra bất kỳ bằng chứng nào về rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương đang diễn ra. Nếu thăm khám bình thường, chẩn đoán chấn động não hoặc PCS có thể được xác định dựa trên bệnh sử. Một số công cụ để đánh giá cả các triệu chứng ngay tại chỗ, và PCS, và những công cụ này có trong tài liệu tham khảo.

Chụp cắt lớp vi tính (CT) rất hữu ích trong việc loại trừ các chấn thương nội sọ có thể cần can thiệp phẫu thuật thần kinh. Các yếu tố bệnh sử cho thấy sự cần thiết của CT bao gồm cơ chế thương tổn nặng, LOC, động kinh, nôn mửa dai dẳng, và nghi ngờ lạm dụng trẻ em. PCS dai dẳng hoặc nghiêm trọng cũng cho thấy cần XN hình ảnh. Kết quả khám lâm sàng có thể cho biết sự cần thiết về hình ảnh bao gồm trạng thái tinh thần bất thường, các dấu hiện thần kinh khu trú, gãy xương sọ, tụ máu da đầu, thóp phồng một phần hay toàn bộ. Những bệnh nhân có nguy cơ thấp là những người không có cơ chế chấn thương nghiêm trọng và không có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nào liệt kê ở trên. Những bệnh nhân có nguy cơ thấp này có thể không cần chụp CT.

Những trẻ tham gia thể thao bị chấn động não và muốn chơi trở lại nên được cảnh báo cẩn thận. Tổn thương não tích tụ do chấn động não tái phát có thể xảy ra. Trong những trường hợp hiếm hoi, trẻ có thể bị hội chứng va chạm thứ phát. Hội chứng này xảy ra khi đứa trẻ bị chấn động não lần thứ hai trước khi hồi phục hoàn toàn từ lần đầu tiên, và sau đó phát triển chứng phù não ác tính. Hội chứng này được cho là xảy ra do gián đoạn quá trình tự cung cấp máu của não, dẫn đến ứ máu, phù não, tăng áp lực nội sọ, thoát vị não và có thể là tử vong. Mặc dù mối quan hệ chính xác giữa va chạm thứ phát và đáp ứng sinh lý bệnh là không rõ ràng, sự chưa trưởng thành của não là một yếu tố nguy cơ được ghi nhận.

 Để ngăn ngừa những biến chứng này, một số hướng dẫn đã được công bố đề xuất một hệ thống chấm điểm cho chấn động não và chi tiết khi trẻ muốn trở lại chơi thể thao an toàn, và những hướng dẫn này có trong tài liệu tham khảo. Trong số những hướng dẫn này, có sự nhất trí rằng các vận động viên nên không chơi cho đến khi tất cả các dấu hiệu và triệu chứng đã được giải quyết, bao gồm các triệu chứng về thể chất, cảm xúc hoặc hành vi và nhận thức. Mặc dù có một số điểm khác biệt nhỏ giữa các hướng dẫn liên quan với các khuyến cáo khác, thì sự chấn động não càng nghiêm trọng, trẻ càng nên kiềm chế chơi. Mức độ nghiêm trọng được đánh giá bởi sự hiện diện hoặc vắng mặt của LOC và thời gian của các triệu chứng. Nếu có bất kỳ LOC nào, trở lại chơi phải bị trì hoãn trong khoảng từ 1 đến 2 tuần. Nếu không có LOC, nhưng các triệu chứng ban đầu vẫn tồn tại quá 15 phút, thì thời gian chờ là 1 tuần. Bất kỳ triệu chứng nào đang diễn ra sẽ cản trở trở lại chơi cho đến khi hết hoàn toàn và một giai đoạn chờ để quan sát. Hơn nữa, trong tất cả các trường hợp, cần đặc biệt chú ý tới mức độ hoạt động cần tăng từng bước và dần dần.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn