» Bài 146 – Xem xét bảng chẩn đoán phân biệt của thở khò khè ở trẻ em Bài 146 – Xem xét bảng chẩn đoán phân biệt của thở khò khè ở trẻ em – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 146 – Xem xét bảng chẩn đoán phân biệt của thở khò khè ở trẻ em



Sarika Joshi MD

Nên làm gì?

Thở khò khè là âm thanh liên tục âm thanh được tạo ra bởi luồng không khí thông qua đường thở khít hẹp hoặc bị ép lại. Thở khò khè có thể bắt nguồn từ cả đường hô hấp nhỏ và lớn. Từ 10 đến 15% trẻ sơ sinh khò khè trong năm đầu tiên của cuộc đời, và khoảng một phần tư trẻ dưới 5 tuổi đi khám bác sĩ vì thở khò khè. Mặc dù bệnh hen là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra thở khò khè tái phát, chẩn đoán phân biệt thở khò khè ở trẻ em bao gồm hít phải dị vật, nhiễm trùng, dị tật vòng thắt mạch máu (vascular rings and slings), chứng nhuyễn khí phế quản, dò khí quản-thực quản (TEF), khối u trung thất, trào ngược dạ dày thực quản (gastroesophageal reflux – GERD) hội chứng suy giảm miễn dịch, xơ nang (CF), và rối loạn chức năng thanh quản (VCD).

Về mặt khái niệm, sẽ rất hữu ích khi phân biệt giữa thở khò khè cấp tính hoặc mạn tính hoặc tái phát. Các nguyên nhân gây ra khò khè cấp tính ở trẻ em là hít phải dị vật và nhiễm trùng. Hít phải dị vật xảy ra nhiều hơn ở trẻ em dưới 3 tuổi nhưng ít hơn ở trẻ sơ sinh. Điển hình, bệnh nhân bị nghẹt thở từng đợt, nhưng việc khởi phát thở khò khè cấp tính đơn độc bảo đảm cho việc nghi ngờ hít phải dị vật.

Thăm khám có thể cho thấy thở khò khè một bên hoặc âm thở không đều ở 2 bên. Chụp X quang ngực (CXR) có thể cho thấy căng phồng phổi một bên hoặc xẹp phổi hoặc có thể là bình thường. Bệnh nhân thường không đáp ứng với thuốc giãn phế quản. Chẩn đoán xác định bằng nội soi phế quản. Các tác nhân gây bệnh thông thường gây khò khè ở trẻ em bao gồm virut hợp bào đường hô hấp RSV, parainfluenza, metapneumovirus, rhinovirus và Mycoplasma pneumoniae. Bệnh nhân thường có các dấu hiệu nhiễm trùng khác như nghẹt mũi, chảy nước mũi, ho và sốt. Các dấu hiệu của CXR và đáp ứng với thuốc giãn phế quản là rất khác nhau.

  Các nguyên nhân của việc thở khò khè tái phát có thể được phân loại như là giải phẫu hoặc cấu trúc với chức năng. Các dị tật vòng thắt mạch máu, nhuyễn khí phế quản, TEF, và u trung thất là một số nguyên nhân giải phẫu hoặc cấu trúc của thở khò khè tái phát ở trẻ em. Dị tật vòng thắt mạch máu (ví dụ đôi cung động mạch chủ, cung động mạch chủ bên phải, vòng thắt động mạch phổi) có thể chèn ép các đường thở lớn, chẳng hạn như khí quản và phế quản chính, dẫn đến thở rít hoặc khò khè. Những dị tật này thường biểu hiện sớm trong cuộc đời, và CXR hầu như luôn luôn bất thường. Thuốc giãn phế quản có thể làm trầm trọng thêm chứng khò khè do nhuyễn khí phế quản.

Các XN sâu hơn bao gồm barium thực quản, ECG, và chụp cộng hưởng từ tim. Ngoài dị tật vòng thắt mạch máu, tổn thương tim dẫn đến sự giãn nở động mạch phổi, lớn tâm nhĩ trái, suy thất trái, hoặc tắc nghẽn dòng chảy TM phổi có thể dẫn đến thở khò khè. Nhuyễn khí phế quản cũng biểu hiện sớm trong cuộc đời với thở rít hoặc thở khò khè nhưng nói chung trở nên rõ ràng hơn ở 2 đến 3 tháng tuổi. Thở rít và thở khò khè tồi tệ hơn với sự nhiễm trùng và vận động. CXR thường không chẩn đoán được, và thuốc giãn phế quản có thể làm thở khò khè trầm trọng thêm do tăng tắc nghẽn đường dẫn khí vì giãn cơ trơn. Chẩn đoán xác định bằng nội soi phế quản.

TEF thường biểu hiện ngay trong giai đoạn sau sinh. Bệnh nhân có ho, nghẹt thở, và khò khè do sặc thức ăn; trẻ lớn hơn cũng có thể có tiền sử viêm phổi tái diễn. CXR có thể phù hợp với viiem phổi tái phát, và đáp ứng với thuốc giãn phế quản là rất khác nhau. Các XN sâu hơn bao gồm barium thực quản, nội soi thực quản, và soi phế quản. Các khối u trung thất (ví dụ các khối u, nang phế quản, các hạch bạch huyết lớn) có thể chèn ép khí quản hoặc phế quản, do đó dẫn tới thở rít hoặc khò khè. Bệnh nhân cũng có thể có hạch lớn. CXR thường bất thường, và bệnh nhân thường không đáp ứng với thuốc giãn phế quản.

 GERD, bất thường chức năng nuốt, hội chứng suy giảm miễn dịch, CF, VCD, và hen suyễn là một số nguyên nhân chức năng gây thở khò khè tái phát ở trẻ em. GERD có liên quan đến hít sặc nhỏ mãn tính, nó sẽ dẫn đến chứng viêm và phù nề, làm hẹp đường thở và thở khò khè. Bệnh nhân thường có các dấu hiệu và triệu chứng khác của GER như nôn mửa, vòm miệng và ho ban đêm. CXR thường là bình thường, và phản ứng với thuốc giãn phế quản là biến đổi. XN tiếp theo bao gồm đo pH hoặc test Milk scan. Bất thường chức năng nuốt nên được nghi ngờ ở trẻ em bị bệnh thần kinh hoặc cơ. Điển hình, bệnh nhân có ho do hít phải thức ăn, nhưng hội chứng hít sặc vào có thể thầm lặng, và trẻ lớn hơn có thể có tiền sử viêm phổi tái phát. Chẩn đoán chính xác được thực hiện bởi nuốt barium. Hội chứng suy giảm miễn dịch, đặc biệt là những người bị thiếu globulin miễn dịch IgA hoặc IgG, có thể dẫn đến viêm phổi tái phát kèm thở khò khè. Bệnh nhân cũng có thể bị viêm tai giữa hoặc viêm họng. Kiểm tra miễn dịch sơ bộ bao gồm công thức máu toàn phần, định lượng globulin miễn dịch, và total hemolytic complement (CH50). CF là bệnh thừa NST thường phổ biến nhất ở người da trắng, và bệnh nhân có thể có thở khò khè tái phát. CF nên được nghi ngờ ở trẻ em có triệu chứng hô hấp và tiêu hóa đường hô hấp cùng lúc, kể cả không phát triển nhanh. Chẩn đoán chính xác được thực hiện bằng cách thử mồ hôi hoặc di truyền. Đối với bất thường chức năng nuốt, hội chứng suy giảm miễn dịch và CF, CXR có thể phù hợp với viêm phổi tái phát, và đáp ứng với thuốc giãn phế quản là còn tùy.

VCD được chẩn đoán ở những trẻ gái vị thành niên. Ở những bệnh nhân VCD, dây thanh quản thực sự khép khi hít vào và dạng khi thở ra, do đó gây thở rít hay thở khò khè tái diễn. Nguyên nhân của VCD dường như là tâm lý, và các triệu chứng có thể giải quyết khi bệnh nhân không bị nhìn ngó hoặc đang ngủ. CXR thường là bình thường, và phản ứng với thuốc giãn phế quản là biến đổi. Chẩn đoán xác định bằng nội soi phế quản. Hen là nguyên nhân phổ biến nhất gây thở khò khè tái phát ở trẻ em. Hầu hết các bệnh nhân hen biểu hiện trước 5 tuổi, và ho là một triệu chứng phổ biến khác. Yếu tố kích phát là nhiễm trùng, tập thể dục, thay đổi thời tiết, và tiếp xúc với chất gây dị ứng. CXR có thể cho thấy căng phồng phổi, dày phế quản ngoại vi, hoặc xẹp phổi do tắc nút nhầy, và bệnh nhân đáp ứng với thuốc giãn phế quản. Chẩn đoán xác định bằng phương pháp đo chức năng hô hấp trước và sau dùng thuốc giãn phế quản ở trẻ đủ tuổi để thực hiện xét nghiệm này (thường là trên 5 tuổi).

Tóm lại, chẩn đoán phân biệt cho khò khè ở trẻ em là rất rộng. Dấu hiệu CXR và đáp ứng với thuốc giãn phế quản có thể giúp thu hẹp sự khác biệt này. Hãy nhớ một câu nói: “Tất cả những tiếng thở khò khè không phải là bệnh hen.”


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn