» Bài 143 – Xem xét các lý do gây giảm thông khí sau khi gây tê/mê. Nó có thể là do thuốc tê/mê còn sót lại, nhưng không phải luôn luôn như vậy Bài 143 – Xem xét các lý do gây giảm thông khí sau khi gây tê/mê. Nó có thể là do thuốc tê/mê còn sót lại, nhưng không phải luôn luôn như vậy – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 143 – Xem xét các lý do gây giảm thông khí sau khi gây tê/mê. Nó có thể là do thuốc tê/mê còn sót lại, nhưng không phải luôn luôn như vậy



Renée Roberts MD

Nên làm gì?

Thiếu oxy máu nhẹ, tắc nghẽn đường thở, tăng thông khí, xẹp phổi và co thắt phế quản là rất phổ biến trong suốt quá trình gây tê/mê mà các bác sĩ gây mê và y tá hậu phẫu thường cung cấp liệu pháp dự phòng tốt trong phẫu thuật hiện đại. Những vấn đề này thường được coi là hậu quả tự nhiên của việc dùng thuốc làm ức chế trung tâm hô hấp của cơ thể, giảm thể tích phổi, giảm phản xạ đường hô hấp, giảm vận động bài tiết và loại bỏ sighing (auto-PEEP). Kết cục bất lợi của phổi thường được cho là do gây tê, nhưng một thành phần cực kỳ quan trọng của tiền phẫu xuất phát từ vị trí phẫu thuật, đau sau phẫu thuật, và các ảnh hưởng của quản lý cơn đau bằng thuốc. Những nguy cơ này phải được nhân viên tiền phẫu thuật nhận ra để các biến chứng nghiêm trọng hơn về phổi như viêm phế quản, viêm phổi, phù phổi, hít sặc, và suy hô hấp không xảy ra.

Các vấn đề về độ bão hòa oxy, thông khí và duy trì đường thở là những dấu hiệu chủ yếu của các biến chứng về phổi trước phẫu thuật và có thể được thảo luận trong bối cảnh thiếu oxy tổ chức. Tình trạng thiếu oxy được định nghĩa là giảm hàm lượng oxy với việc giảm cung cấp oxy trong máu đến mô. Các nguyên nhân phổ biến sau phẫu thuật gây giảm ôxy máu được chia thành hai loại: thiếu oxy tổ chức do thiếu máu và thiếu oxy tổ chức do thiếu oxy máu (anemic hypoxia and hypoxemic hypoxia). Thiếu oxy tổ chức do thiếu máu là kết quả của việc giảm nồng độ hemoglobin, hoặc là do các bệnh như bệnh hồng cầu hình liềm hoặc do các tổn thương phẫu thuật. Thiếu oxy tổ chức do thiếu máu cũng có thể là do những bệnh làm thay đổi đường cong phân ly oxyhemoglobin (cân bằng acid-bazơ, nhiệt độ) và hoặc thay đổi khả năng liên kết của hemoglobin như HbF ở trẻ sơ sinh. Tình trạng thiếu oxy tổ chức do hạ oxy máu sau phẫu thuật là kết quả khi trao đổi oxy trong phổi có vấn đề và có thể được chia thành hai loại: thông khí/tưới máu kém và giảm thông khí.

Khi tỷ lệ thông khí (V) và sự tưới máu (Q) của phổi không bình thường, tình trạng thiếu oxy máu kết quả là do V/Q không phù hợp. Sự thay đổi cấp tính của V/Q diễn ra như là một chức năng của sự thay đổi ở thành ngực, vị trí phẫu thuật, các chế độ thông khí trong phẫu thuật, và các hiệu quả gây tê/mê trên dòng máu phổi. Tác dụng gây tê/mê cấp tính phần lớn đảo ngược vào cuối cuộc phẫu thuật; tuy nhiên, một số phẫu thuật nhất định có tác động hậu phẫu đến chức năng phổi. Ví dụ, sau khi phẫu thuật phần bụng trên và lồng ngực, dung tích phổi giảm xuống khoảng 40% trong vài ngày đầu sau phẫu thuật, và cơ chế hô hấp giảm kéo dài đến 2 tuần. Các nguyên nhân khác của V/Q không phù hợp bao gồm tắc nghẽn đường thở một phần (thở rít sau rút ống, co thắt thanh quản hoặc co thắt phế quản); thể tích lưu thông không đủ và ho (từ recurarization hoặc lượng an thần dư); và xẹp phổi (từ duy trì sự giảm lưu lượng đỉnh và tổng lượng phổi trong và sau khi gây tê/mê).

Sự không phù hợp V / Q vừa phải có thể tiến triển đến mức không phù hợp nghiêm trọng còn được gọi là shunt (không có sự trao đổi oxy (V) với máu tuần hoàn (Q). Viêm phổi, viêm phế quản, và phù phổi là những ví dụ của shunt. Viêm phổi hít và viêm phổi sau đó được xem là biến chứng nghiêm trọng nhất của gây mê, có thể tránh được bằng cách tuân thủ các biện pháp đánh giá nhanh và dự phòng. Gia tăng nguy cơ viêm phổi hít bao gồm phẫu thuật khẩn, béo phì, trào ngược, bệnh thần kinh cơ, đầy dạ dày, và an thần. Một yếu tố nguy cơ trước khi phẫu thuật cho PPC có thể dẫn đến shunt là ngưng thở khi ngủ (từ các hội chứng bẩm sinh, các bất thường của xương sọ, chứng béo phì, rối loạn chức năng tim). Nếu không được kiểm soát cẩn thận, giảm tiểu cầu kịch phát trong giai đoạn hậu phẫu có thể gây ra chứng suy tim-mạch, phù phổi, hoặc hội chứng phổi hít.

Và cuối cùng, phù phổi áp lực âm do viêm phổi hít sau khi rút ống bởi đặt ống gần dây thanh quản cũng nên nằm trong chẩn đoán phân biệt của tình trạng thiếu oxy máu từ shunt.

Nguyên nhân khác của tình trạng thiếu oxy máu là giảm thông khí: thông khí phút không đủ (tần số hô hấp × thể tích lưu thông) để loại bỏ carbon dioxide sinh ra. Bất cứ khi nào thông khí phế quản không đủ, carbon dioxide sẽ tăng lên trong máu và phế nang và số ít còn lại cho các loại khí khác (kể cả oxy); khi giảm thông khí xảy ra ở bệnh nhân thở không khí phòng, sự giảm oxy tổ chức sẽ xảy ra. Nguyên nhân gây ra sự giảm thông khí sau phẫu thuật ở những bệnh nhân thông khí tự nhiên là tắc nghẽn đường thở, suy trung tâm hô hấp cấp tính do thuốc (opiates, barbiturates, hít), đau (sau phẫu thuật lồng ngực, chấn thương ngực, rạch vùng bụng trên), tràn khí màng phổi, thuốc chẹn thần kinh cơ, bất thường dẫn truyền tủy cổ (C3-5) như phẫu thuật vùng cổ cao, chấn thương thần kinh hoành thông qua tổn thương lạnh (bắc cầu tim phổi) hoặc cắt bỏ. Giảm thông khí sau khi phẫu thuật cũng có thể do suy nhược cơ hô hấp do chứng loạn dưỡng cơ, suy dinh dưỡng, thông khí cơ học kéo dài, và các vấn đề của trung tâm hô hấp do tổn thương tủy sau phẫu thuật chấn thương, u hoặc chảy máu.

Các triệu chứng thần kinh của thiếu oxy máu (lo lắng, lú lẫn, bồn chồn, buồn ngủ và hôn mê) có thể được che đậy ở bệnh nhân sau khi gây mê. Do thuốc gây mê, nhiều phản ứng tim mạch thường gặp với tình trạng thiếu oxy tổ chức, các dấu hiệu cảnh báo tinh vi khác như nhịp tim nhanh và thở nhanh, bị che dấu. Hơn nữa, tiêu thụ oxy ở trẻ sơ sinh gấp 2-3 lần so với trẻ lớn hơn và người lớn và trẻ sơ sinh đáp ứng nghịch lý với tăng CO2 máu và thiếu oxy máu bằng chứng ngưng thở hơn là tăng thông khí. Phản ứng nghịch lý này thậm chí còn nổi bật hơn ở những trẻ sơ sinh non tháng.

Các nhân viên điều dưỡng gây mê và chăm sóc hậu phẫu cần thường xuyên kiểm soát tắc nghẽn đường thở một phần, giảm thông khí và giảm oxy máu liên quan đến các ảnh hưởng do sự tổn dư của thuốc giãn cơ, thuốc an thần và thuốc gây mê. Điều bắt buộc là các bệnh nhân sau phẫu thuật có độ bão hòa oxy được theo dõi bằng máy đo bão hòa oxy, và thông khí được theo dõi cẩn thận. Nếu có tình trạng thiếu oxy máu dia dẳng hoặc xấu đi mặc dù có bổ sung oxy, thuốc giãn phế quản, quản lý đường thở, kỹ thuật mở rộng vùng phổi bị xẹp hoặc đảo ngược các thuốc an thần/thuốc mê và thuốc giãn cơ, bệnh nhân cần được đánh giá lại lâm sàng hướng đến những vấn đề có khả năng nhất và hỗ trợ cẩn thận như thông khí áp lực dương liên tục. Nên tiến hành các XN để loại trừ phù phổi, tràn khí màng phổi, thuyên tắc phổi, hoặc tắc nghẽn đường thở trên hoặc dưới. Trong trường hợp thiếu oxy máu sau khi phẫu thuật vùng ngực và ổ bụng trên, đội ngũ chăm sóc sau phẫu thuật cần nhận ra sự cần thiết phải kiểm soát cơn đau bằng nhiều phương thức mà không sử dụng quá liều thuốc gây mê, an thần, vận động bệnh nhân và bài tiết, bảo đảm dung tích phổi, và di chuyển thích hợp càng sớm càng tốt.

  • Pháp luật

    Chương mới nhất:

  • Group Bác sĩ siêu âm

    Chương mới nhất: Case Ung thư gan

  • Bs Phạm Hoàng Thiên hot icon

    Chương mới nhất: Ngất ở trẻ em

  • Tin tức

    Chương mới nhất:

  • Lỗi cấp cứu nhi hot icon

    Chương mới nhất: Bài 173 Đừng mất thời gian cố lấy ven ngoại vi ở trẻ bị sốc, nên lấy đường truyền trong xương

  • Bs Thái Ngân Hà

    Chương mới nhất: Phình động mạch chủ và bóc tách mạch chủ: Các tips để thực hành

  • Chưa phân loại

    Chương mới nhất: Trắc nghiệm môn chăm sóc nội khoa

  • Lỗi cần tránh trong ngoại khoa

    Chương mới nhất: 7. NÊN NGHI NGỜ HỘI CHỨNG CHÈN ÉP KHOANG Ở BỆNH NHÂN CÓ GÃY XƯƠNG CHÀY DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG

  • Câu hỏi trắc nghiệm

    Chương mới nhất: Thi hết môn chăm sóc bệnh nhân nội khoa lớp 18DD5a1

  • Chú giải thuật ngữ y học anh việt thông dụng hot icon

    Chương mới nhất: Tài liệu tham khảo


  • Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net