Bài 14 – Chú ý ở trẻ sơ sinh có bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết nhưng không sốt có thể do bệnh tim bệnh sinh, đặ biệt như hẹp động mạch chủ hoặc hội chứng thiểu sản thất trái | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa Bài 14 – Chú ý ở trẻ sơ sinh có bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết nhưng không sốt có thể do bệnh tim bệnh sinh, đặ biệt như hẹp động mạch chủ hoặc hội chứng thiểu sản thất trái | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 14 – Chú ý ở trẻ sơ sinh có bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết nhưng không sốt có thể do bệnh tim bệnh sinh, đặ biệt như hẹp động mạch chủ hoặc hội chứng thiểu sản thất trái



 

Russell Cross MD

 

Nên làm gì?

Chẩn đoán phân biệt ở trẻ sơ sinh có biểu hiện như thở nhanh, lơ mơ, bú kém hoặc hạ thân nhiệt hay nghĩ đến nhiễm khuẩn. nhưng nên nhớ 1 điều các bệnh tim bệnh sinh cũng có thể xuất hiện các triệu chứng tương tự. không có sốt khi có những biểu hiện trên làm tăng nghi ngờ bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc còn ống động mạch

 Các biểu hiện của bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc ống động mạch là do ống động mạch đủ cung cấp máu cho toàn thân hoặc phổi. Những tổn thương này có thể lẫn lộn với nhiễm trùng huyết sơ sinh vì thời điểm bắt đầu các triệu chứng tương quan với quá trình diễn biến tự nhiên do đóng ống động mạch sau vài giờ hoặc vài ngày. Trẻ sơ sinh ban đầu có thể bình thường và không có biểu hiên lâm sàng cho đến khi ống động mạch đóng lại. Sự xuất hiện của các triệu chứng có thể đột ngột và đe doạ đến tính mạng, vì giảm lưu thông máu hệ thống và phổi. bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc còn ống động mạch bao gồm tắc đường ra bên trái, hẹp độg mạch chủ, hẹp quai động mạch chủ và hội chứng thiểu sản thất trái. Trong tất cả các trường hợp này, lưu lượng máu toàn thân ban đầu duy trì nhờ ống động mạch. Trẻ bị tắc đường ra bên trái không thể chuyên sang tuần hoàn như bình thường do ống động mạch đóng lại, tắc đường ra bên trái làm giảm sản thất trái và giảm lưu lượng máu tuần hoàn. Cuối cùng gây toan chuyển hóa và sốc liên quan tới các triệu chứng không đặc hiệu được đề cập ở trên ống động mạch giúp duy trì tưới máu phổi. những tổn thương làm giảm tưới máu phổi khi ống động mạch đóng là hẹp động mạch phổi nặng, tứ chứng Fallot, và thiểu sản phổi. trong những trường hợp này, khi ống động mạch đóng sẽ gây biểu hiện tương tự như nhiễm khuẩn huyết .

điều trị ban đầu cho các tổn thương phụ thuộc còn ống động mạch là truyền tĩnh mạch prostaglandin E1  (PGE1) mục đích duy trì còn ống động mạch và tuần hoàn thai nhi. PGE1 bắt đầu truyền tĩnh mạch 0.1 µg/kg/min, sau đó giảm liều nếu có đáp ứng từ 0.025 – 0.05 µg/kg/min khi huyết động ổn định. PGE1 là cứu tinh cho bệnh nhân có tổn thương phụ thuộc còn ống động mạch và nên dùng trong bất cứ trường hợp nào nghi ngờ bênh tim bẩm sinh. Tác dụng phụ của PGE1 gây ngưng thở, sốt cao, tụt huyết áp. Bệnh nhân nên theo dõi sát, chuẩn bị sẵn thông khí hỗ trợ, dịch và thuốc vận mạch.

Chẩn đoán trước sinh đánh giá bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc còn ống động mạch giúp giảm

Số bệnh nhân tim bẩm sinh xuất hiện các triệu chứng giống như nhiễm khuẩn huyết. nên có kiến thức về bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc còn ống động mạch, giúp can thiệp sớm cải thiện tình trạng lâm sàng và nguy cơ tử vong. Điều này một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nên nghi ngờ lâm sàng và cảnh giác cao với trẻ sơ sinh có biểu hiện nhiễm trùng không đặc hiệu.

 


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net