» Bài 139 – Cần cân nhắc bệnh nhân ngáy có thể có hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS) Bài 139 – Cần cân nhắc bệnh nhân ngáy có thể có hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS) – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 139 – Cần cân nhắc bệnh nhân ngáy có thể có hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS)



Sarika Joshi MD

Nên làm gì?

OSAS là một rối loạn hô hấp quan trọng về mặt hô hấp ở trẻ em nhưng không được công nhận. OSAS được đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở trên, không hoàn toàn, hoặc một phần trong khi ngủ, đôi khi có tình trạng thiếu oxy máu hoặc ứ carbon dioxide. Ở trẻ em, tỷ lệ hiện mắc của OSAS là 1% đến 3%, với tỷ lệ cao ở trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo.

Triệu chứng phổ biến nhất của OSAS ở trẻ là ngáy. Ngáy ảnh hưởng đến 7% đến 9% trẻ em dưới 10 tuổi. Thật không may, không có thử nghiệm sàng lọc đáng tin cậy để phân biệt ngáy nguyên phát với OSAS. Các triệu chứng khác phù hợp với OSAS bao gồm khó ngủ; khó khăn hoặc cáu kỉnh khi thức dậy; thở miệng; và các vấn đề về hành vi, như hiếu động thái quá và hiếu chiến. Trong những trường hợp nghiêm trọng, OSAS không được điều trị có thể dẫn đến những khó khăn về học tập, chậm phát triển, không phát triển nhanh, tăng áp phổi, suy  bện tim phổi và suy tim sung huyết. Theo Hướng dẫn thực hành của Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ về OSAS, bác sĩ nhi khoa nên cân nhắc khả năng của OSAS ở bất kỳ trẻ nào có chứng ngáy. Nếu có dấu hiệu hoặc triệu chứng khác của OSAS, cần tiến hành kiểm tra thêm.

Các nguyên nhân thông thường của OSAS có thể được chia thành các vấn đề giải phẫu với các vấn đề về chức năng, tất cả đều gây tắc nghẽn đường thở, thu hẹp hoặc xẹp. Các nguyên nhân giải phẫu bao gồm cả các mô bất thường xương và mô mềm. Nhiều hội chứng di truyền có liên quan đến các dị tật của xương sọ, chẳng hạn như tật hàm nhỏ (ví dụ như bệnh Pierre Robin: thiểu sản hàm dưới, hội chứng Treacher Collins: loạn xương mặt hàm dưới), thiểu sản giữa mặt và sự biến dạng của sọ (ví dụ như hội chứng Down, hội chứng Pfeiffer)..

 Phì đại hạnh nhân họng (Adenotonsillar hypertrophy) là một bất thường mô mềm, với tỷ lệ cao nhất ở trẻ em từ 3 đến 8 tuổi, và nó là nguyên nhân giải phẫu phổ biến nhất gây OSAS ở trẻ em. Chứng viêm thanh quản và viêm mũi dị ứng nghiêm trọng gây tắc nghẽn mũi là những dị tật mô mềm khác có thể dẫn đến OSAS. Béo phì làm tăng tích tụ chất béo trong mô mềm của đường thở trên. Khi tỷ lệ béo phì ở trẻ em ở các nước phát triển tiếp tục tăng lên, điều quan trọng đối với các bác sĩ nhi khoa nên nhớ rằng bệnh này là một yếu tố nguy cơ đáng kể cho OSAS. Các bệnh về cơ và thần kinh dẫn tới trương lực cơ yếu hoặc cơ mất sự phối hợp là các nguyên nhân chức năng của OSAS ở trẻ em. Chúng bao gồm chứng loạn dưỡng cơ và bại não.

Đa ký giấc ngủ (polysomnography) là tiêu chuẩn vàng cho việc chẩn đoán OSAS ở trẻ em. Hiệp hội Lồng ngực của Hoa Kỳ khuyến cáo nên làm polysomnography trong các tình huống sau: (a) phân biệt ngáy nguyên phát với OSAS, (b) đánh giá trẻ bị các bệnh lý về giấc ngủ (ví dụ như khó chịu hoặc cáu kỉnh khi thức tỉnh), (c) nghi ngờ OSAS trước khi phẫu thuật, (d) để đánh giá nguy cơ biến chứng hô hấp trước khi phẫu thuật đường thở trên, (e) để đánh giá trẻ em bị mềm sụn thanh quản hoặc mắc bệnh tim phổi, (f) để đánh giá trẻ béo phì có các dấu hiệu hoặc triệu chứng liên quan đến OSAS, (g) để đánh giá trẻ bị bệnh hồng cầu lưỡi liềm (do nguy cơ tắc nghẽn mạch máu với tình trạng thiếu oxy máu trong thời gian ngủ), (h) để đánh giá việc ngủ ngáy tái diễn sau chấn thương và (i) để điều trị OSAS tiếp diễn với thở máy áp lực dương liên tục (CPAP).

Điều trị OSAS phụ thuộc vào nguyên nhân. Phẫu thuật cắt bỏ được điều trị ở> 75% trẻ em bị chứng phì đại hạnh nhân (adenotonsillar hypertrophy). Có rất nhiều phẫu thuật khác để điều trị dị thường xương sọ. Ở trẻ béo phì, nên giảm cân nhưng không nên trì hoãn việc bắt đầu các điều trị. Điều trị bằng CPAP hoặc BiPAP là thích hợp khi phẫu thuật không thành công hoặc không có chỉ định, hoặc khi các triệu chứng vẫn còn sau phẫu thuật.

 Tóm lại, OSAS là một rối loạn hô hấp đáng kể của trẻ em, và không chẩn đoán nó có thể dẫn đến tàn tật đáng kể. Các nhóm có nguy cơ bao gồm trẻ em béo phì, hoặc trẻ em bị phì đại hạnh nhân họng, dị thường xương sọ, và rối loạn thần kinh cơ. Chẩn đoán phụ thuộc vào polysomnography, và các lựa chọn điều trị bao gồm phẫu thuật, CPAP, hoặc BiPAP.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn