» Bài 133 – Biết sự khác biệt giữa ung thư hắc tố, ung thư biểu mô tế bào đáy và ung thư biểu mô tế bào vảy Bài 133 – Biết sự khác biệt giữa ung thư hắc tố, ung thư biểu mô tế bào đáy và ung thư biểu mô tế bào vảy – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 133 – Biết sự khác biệt giữa ung thư hắc tố, ung thư biểu mô tế bào đáy và ung thư biểu mô tế bào vảy



Elizabeth Wells MD

Nên làm gì?

Bác sĩ lâm sàng thường có chỉ số nghi ngờ thấp về tổn thương da ác tính ở trẻ em, điều này có thể dẫn đến sự chậm chễ trong chẩn đoán và điều trị. Dưới đây là tổng quan về ba loại ung thư da phổ biến nhất, bao gồm các đặc điểm chẩn đoán, điều trị và những khác biệt quan trọng.

Ung thư hắc tố

Ung thư hắc tố là một khối u ác tính ác tính đe dọa đến mạng sống của tế bào hắc tố, các tế bào này tổng hợp và tích tụ sắc tố melanin. Tỷ lệ mắc u hắc tố da tăng nhanh hơn so với bất kỳ khối u nào khác, và các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ này đang gia tăng ở trẻ em. Mặc dù chỉ có 2% trong tất cả trường hợp xảy ra ở trẻ em, ung thư hắc tố chỉ chiếm từ 5% đến 10% khối u da ác tính ở trẻ trước tuổi dậy thì.

Các bác sĩ nhi khoa phải nhận thức được u ác tính tiềm ẩn ở trẻ em, để tìm và nhận ra các tổn thương sớm trong giai đoạn phát triển của chúng, khi chúng vẫn có thể được chữa khỏi bằng phẫu thuật cắt bỏ.

Viện Da liễu Hoa Kỳ đã thông qua các tiêu chuẩn ABCD về đặc điểm hình thái của ung thư hắc tố: bất đối xứng, rìa tổn thương không đều, màu sắc khác nhau và đường kính > 6 mm. Ung thư hấc tố ở trẻ em có thể xuất hiện không điển hình với bệnh loét hoặc thiếu sắc tố (amelanotic). Bác sĩ da liễu khuyên các bác sĩ lâm sàng và bệnh nhân nghi ngờ dấu hiệu “vịt con xấu xí” – một thương tổn nổi bật so với tất cả những tổn thương khác thông qua sự khác biệt về màu sắc, đặc tính tăng trưởng, hoặc các dấu hiệu hoặc triệu chứng liên quan. Các yếu tố nguy cơ cho khối u ác tính bao gồm tiền sử của vết chàm bẩm sinh, vết chàm bất thường, khô da sắc tố, và tình trạng suy giảm miễn dịch. Không rõ là liệu da trắng, tóc, mắt và tiền sử của da bị cháy nắng cũng gia tăng nguy cơ tương tự ở trẻ em như ở người lớn hay không.

 Bác sĩ nhi khoa chăm sóc ban đầu có cơ hội để quan sát sự phát triển của vết chàm lành tính ở bệnh nhân theo thời gian. Bất kỳ tổn thương tế bào sắc tố nào có thay đổi đáng kể, bất ngờ, chẳng hạn như tăng nhanh không đối xứng, vảy cứng, loét, và mất màu, cần bảo đảm có đánh giá về bệnh da liễu và có thể loại trừ được. Sinh thiết da cần thiết cho bất kỳ tổn thương da nào được nghi ngờ là ung thư hắc tố

Đối với các tổn thương nhỏ hơn, nên làm sinh thiết cắt bỏ toàn phần bao gồm một vùng da nhỏ (5 mm) của da bình thường; sinh thiết cắt bỏ một phần được thực hiện cho những tổn thương rất lớn. Tất cả các tổn thương sắc tố đã được loại bỏ phải được trình bác sĩ da liễu lâm sàng, đặc biệt là khi chẩn đoán bằng mô học có thể khó khăn ở trẻ em hơn ở người lớn. Khi chẩn đoán u ác tính nguyên phát được khẳng định về mặt mô bệnh học, cần phải cắt bỏ lại, > 1 cm so với rìa tổn thương.

Tiên lượng của ung thư hắc tố phụ thuộc vào độ sâu thâm nhập của Breslow, đây là thước đo độ dày tổn thương theo milimét. Các tổn thương sâu hơn có nguy cơ tái phát cục bộ và toàn thân. Tỉ lệ sống sót cao đối với u ác tính với độ sâu Breslow < 0,75 mm nhưng giảm nhanh chóng với tổn thương với sự xâm lấn sâu hoặc di căn lan rộng. Giai đoạn tổn thương dựa trên các khuyến cáo của người lớn và được thực hiện bằng cách quan sát cẩn thận các hạch lympho cùng với việc kiểm tra XQ phổi và gan. Sinh thiết hạch lympho được sử dụng thường xuyên hơn để hướng dẫn điều trị. Vì có rất ít nghiên cứu về hoá trị ở trẻ em nên phương pháp tiếp cận đa ngành để điều trị u ác tính được khuyến cáo với các chuyên gia ung thư học, bác sĩ da liễu, bác sĩ phẫu thuật, và những bác sĩ chuyên về tổn thương sắc tố.

Ung thư biểu mô tế bào đáy

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC: Basal cell carcinoma) là ung thư da phổ biến nhất ở người lớn, và tỷ lệ này đang gia tăng. Tình trạng này tăng lên trong thập kỷ thứ bảy của cuộc đời và hiếm khi xảy ra ở trẻ em. Khi tìm thấy ở trẻ, nó thường liên quan đến khiếm khuyết di truyền, tiếp xúc với xạ trị liều cao, hoặc vết sẹo từ vết bỏng hay chấn thương.

Mặc dù BCC ở người trẻ tuổi không tương ứng trực tiếp với tổn thương tích lũy do nắng, các trường hợp de novo có thể phổ biến hơn trong các khu vực tiếp xúc với tia cực tím tia mạnh (UV), ví dụ như ở phía tây nam Hoa Kỳ. BCC biểu hiện với màu hồng, ngọc trai, telangiectatic smooth papule (nốt sần mịn như ngọc trai) lớn dần và có thể loét. Nó xuất hiện thường xuyên nhất ở đầu, cổ, và chi trên, phần lớn xuất hiện trên mặt. Đã có một vài trường hợp BCC trên mí mắt của trẻ em. Việc điều trị BCC thường khỏi hẳn và bao gồm cắt đốt điện và nạo (ED&C), cắt bỏ đơn giản, hoặc phẫu thuật Mohs (MMS). Ưu điểm của ED&C là điều trị đòi hỏi thời gian và trang thiết bị tối thiểu và không khâu; Tuy nhiên, không làm được mô bệnh học bằng phương pháp này, vị trí cần nhiều thời gian hơn để chữa lành, và thủ thuật này dẫn đến một vết sẹo giảm sắc tố lớn hơn là vết sẹo thẳng của phương pháp cắt bỏ. ED&C được sử dụng phổ biến nhất trên bề mặt BCC ở thân hoặc các chi. MMS được chỉ định khi khối u tái phát, đường kính > 2 cm, nằm trên các vùng giải phẫu phức tạp, hoặc mô bệnh học tiến triển (ví dụ như ung thư morpheaform).

Tỷ lệ tái phát của BCC được xử lý bằng MMS khoảng 1%, trong khi đó đối với cắt bỏ tiêu chuẩn là 5% đến 10%, tùy thuộc vào tỷ suất cắt bỏ. Liệu pháp làm lạnh cryotherapy được coi là lựa chọn thứ hai cho những bệnh nhân không thể thực hiện các thủ thuật khác, và xạ trị không còn được khuyến cáo nữa. Imiquimod (Aldara) là một chất sinh học kích thích sự phóng thích cytokine tại chỗ và các tế bào T, cho thấy một số hứa hẹn trong điều trị BCC nhưng vẫn chưa được nghiên cứu để sử dụng ở trẻ em.

Trái ngược với ung thư hắc tố, BCC tiến triển chậm, xâm lấn cục bộ, và hiếm khi di căn. Nhận diện sớm cho phép điều trị các khối u nhỏ hơn và có thể ngăn ngừa sự hủy hoại mô lớn và sẹo sau khi cắt bỏ. Vì có liên quan cao với lịch sử gia đình của các hội chứng đặc biệt, nên phát hiện BCC cần nhanh chóng kiểm tra các bệnh hệ thống có thể xảy ra, ví dụ như hội chứng Nevus tế bào nền, khô da sắc tố, và nevus bã đậu.

Ung thư biểu mô tế bào vảy

Ung thư biểu mô tế bào vảy (squamous cell carcinoma – SCC) là loại ung thư da phổ biến thứ hai. Không giống như BCC, SCC có tiềm năng di căn, đặc biệt là các hạch bạch huyết khu vực. Sự tích lũy phơi nhiễm với tia UV có vẻ quan trọng hơn trong quá trình sinh bệnh của SCC so với BCC. Các yếu tố nguy cơ khác của SCC bao gồm tuổi, suy giảm miễn dịch, bức xạ ion hoá, các  yếu tố môi trường gây ung thư, vết sẹo, tiếp xúc nhiệt hoặc bỏng mãn tính, các bất thường về di truyền (ví dụ như các đột biến trong gen p53 chống ung thư) và virus papilloma ở người (HPV).

SCC có khuynh hướng bị ở các vùng da bị phơi nắng và tổn thương do ánh nắng mặt trời nhưng có thể xảy ra ở bất cứ đâu, kể cả màng nhầy. Tổn thương SCC tăng sừng hóa, vảy, nôt hoặc mảng hồng ban, có thể dễ vỡ vụn trên bề mặt và thường nhạy cảm với sờ. Về mặt mô học, SCC có thể được phân thành một số loại, bao gồm ung thư tế bào vảy khu trú, ung thư tê bào vảy biệt hóa tốt, biệt hóa kém, u quá sản sừng, xâm lấn, và ung thư mụn cóc.

Điều trị SCC khá chuẩn. Cryotherapy, kem 5-fluorouracil, và ED&C chỉ được khuyến cáo cho SCC tại chỗ. Còn lại là phẫu thuật. Không có hướng dẫn hoặc nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm soát để mô tả điều trị cho trẻ em. Đối với tiêu chuẩn loại trừ ở người lớn, nên sử dụng rìa 4 mm đối với khối u có đường kính < 1 cm và sâu < 2 mm. Đối với các khối u đường kính > 1 cm, độ sâu > 6mm hoặc khối u tiến triển hơn, chon rìa từ 5mm đến 10mm hoặc phẫu thuật Mohs (MMS). Giống như BCC, MMS là phương pháp được lựa chọn để điều trị SCC ở đầu và cổ; ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch; và đối với các khối u tái phát, quanh thần kinh, > 2 cm, không cắt bỏ hoàn toàn được, hoặc mô bệnh học tiến triển. Xạ trị thường được sử dụng như một biện pháp bổ trợ sau khi cắt bỏ khối u ác tính. SCC thường dễ tiến triến và dễ bị di căn hơn BCC.

Bác sĩ Nhi khoa phải chú ý đến các tổn thương trên da và giới thiệu bệnh nhân đến bác sĩ da liễu, bác sĩ phẫu thuật hoặc bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ nhi khoa có kinh nghiệm, lưu ý rằng ung thư da thường được chữa khỏi khi được nhận diện, chẩn đoán và loại bỏ sớm. Để thu thập thêm thông tin về các giai đoạn và các liệu pháp ở trẻ em, các bác sĩ được khuyến khích ghi danh bệnh nhân trong các nhóm thử nghiệm hợp tác.

 Ngoài ra, bác sĩ nhi khoa nên giáo dục tất cả cha mẹ và trẻ em về tác động nguy hại của tia cực tím và đưa ra các khuyến cáo về thói quen chống nắng và bảo vệ để giảm tỷ lệ mắc các khối u ác tính trên da này.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn