Bài 131 – Xem xét chẩn đoán phân biệt của đau lưng dưới (LBP: low back pain) ở trẻ vị thành niên, có thể bao gồm chẩn đoán ung thư và nhiễm trùng gây ra đau gây ra trước khi có thể nhận diện trên lâm sàng trong qua các XN chẩn đoán

Elizabeth Wells MD

Nên làm gì?

Không giống với người lớn, LBP là không phải là than phiền thường gặp trong thực hành nhi khoa, và phần lớn các trường hợp trẻ em có một nguyên nhân có thể nhận biết được. Hầu hết các trường hợp là do bệnh cơ xương hoặc chấn thương; tuy nhiên, bác sĩ lâm sàng phải xem xét các bệnh hệ thống hơn, chẳng hạn như nhiễm trùng, viêm không do nhiễm trùng, và khối u.

QUẢNG CÁO GIỮA BÀI VIẾT

Nguyên nhân phổ biến nhất của đau lưng là cơ học. Bong gân và căng cơ được điều trị bằng cách nghỉ ngơi và thuốc giảm đau đơn giản, và thường cải thiện trong 2 đến 3 ngày. Chấn thương trực tiếp cũng rất phổ biến, và bệnh sử giúp bác sĩ lâm sàng chẩn đoán.

Bất thường phát triển cột sống có thể gây ra đau lưng bao gồm khuyết eo sống (spondylolysis) và trượt đốt sống ra trước (spondylolisthesis). Spondylolysis được gây ra bởi sự gãy hoặc tách rời do eo đốt sống căng hoặc mệt mỏi, thường là ở L5. Nó phổ biến hơn trong các môn thể thao làm tăng sự căng dãn của xương sống, chẳng hạn như thể dục dụng cụ, quần vợt và nâng tạ. Khiếm khuyết biểu hiện như một đường xung quanh như dây da trên cổ chó (dấu Scotty dog)  trên XQ. Spondylolysis hai bên có thể dẫn đến spondylolisthesis trong đó đốt sống tổn thương bị sai lệch so với đốt sống kế tiếp ở dưới. Một bệnh nhân có chụp X quang âm tính nhưng đau khi căng dãn và bệnh sử điển hình thì cần chụp ảnh thêm, chẳng hạn như chụp cắt lớp vi tính hoặc quét xương. Điều trị bệnh spondylolisthesis bao gồm kết nối lại, đối với tổn thương sớm; và phẫu thuật kết hợp, cho bệnh nhân có dấu hiệu sai lệch tiến triển hoặc có các dấu hiệu thần kinh; tiếp theo là liệu pháp vật lý với các bài tập cơ thể cốt lõi.

  Một đứa trẻ đột ngột bị đau lưng nặng, sốt và tăng tốc độ máu lắng có thể bị nhiễm trùng. Viêm tuỷ sống và viêm tủy xương cột sống là hai bệnh cần được xem xét, và căn bệnh này phổ biến hơn ở trẻ lớn hơn 8 đến 10 tuổi. Khi chụp X quang thường quy có thể biểu hiện bình thường trong giai đoạn sớm của bệnh, hình ảnh cộng hưởng từ là XN được lựa chọn; CT xương cũng thường xuyên được thực hiện. Điều trị cả hai trường hợp nhiễm trùng bao gồm nghỉ ngơi trên giường và kháng sinh.

Các bệnh thấp khớp ở trẻ chưa thành niên gồm viêm khớp dạng thấp và viêm cột sống dính khớp là hai nguyên nhân của viêm không do nhiễm trùng gây đau lưng ở trẻ em. Các bệnh viêm có thể xuất hiện với cứng khớp buổi sáng cải thiện bằng hoạt động. Có thể thấy đau khớp cùng chậu, và những thay đổi của khớp có thể được nhìn thấy trên XQ hay chụp cộng hưởng từ.

Bệnh lý khối u cũng nên được bao gồm trong chẩn đoán phân biệt LBP ở trẻ em. Các khối u lành tính u xương dạng xương và u nguyên bào xương thường biểu hiện với chứng đau do vẹo cột sống, cứng khớp, và đau ban đêm, và được giảm bớt bởi thuốc chống viêm không steroid hoặc aspirin. Các túi phình mạch xương thường không có triệu chứng cho đến khi gãy, sụp đổ, hay xuất huyết xảy ra với u nang là trọng tâm. Hầu hết các khối u lành tính được điều trị bằng cắt bỏ khối u và ghép xương.

Các khối u ác tính có biểu hiện đau lưng, đau ban đêm khó kiểm soát, và những biểu hiện toàn thân, bao gồm cả sụt cân, sốt, và tỷ lệ lắng máu cao. Các khối u ác tính nguyên phát của cột sống rất hiếm nhưng bao gồm sarcoma Ewing, bệnh bạch cầu và u lymphoma. Di căn đến cột sống có thể thấy ở ung thư lympho, bệnh bạch cầu, khối u Wilms, u nguyên bào võng mạc, và u quái ác tính. CT xương thường là công cụ hình ảnh thích hợp nhất cho khối u bones; nó có thể phát hiện thấy nhiều ổ cốt hóa trong bệnh lý di căn xương.

Bệnh lý ở bụng cũng có thể gây đau lưng ở trẻ em. Những bệnh này bao gồm viêm ruột thừa sau manh tràng, viêm màng phổi, viêm thận bể thận hoặc thận ứ nước, và áp xe cơ psoas. Khối u Wilms, ung thư mô liên kết, và khối u sau phúc mạc cũng có thể gây ra đau lưng.

Điều quan trọng là bác sĩ lâm sàng phải cân nhắc nhiều chẩn đoán phân biệt khi đánh giá trẻ em bị LBP. Đau lưng dai dẳng ở trẻ có thể có nguyên nhân nghiêm trọng hơn, và việc chẩn đoán phải bao gồm hình ảnh chẩn đoán thích hợp và chuyển đến chuyên gia chỉnh hình một cách nhanh chóng. Luôn luôn cân nhắc khả năng chèn ép tủy sống. Bệnh tế bào hình liềm phải được loại trừ. Các hội chứng đau mãn tính là một chẩn đoán loại trừ. Nếu có bệnh lý nền, chẳng hạn như nhiễm trùng hoặc khối u, gây ra chứng đau lưng, chẩn đoán sớm có thể giúp điều trị kịp thời hiệu quả.

Bạn có thể chia sẻ bài viết qua:

Bài viết liên quan:

Author: Lê Thọ

Hãy làm việc bằng cái tâm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *