» Bài 121 – Biết sự khác nhau trong điều trị cơn bất sản và thiếu máu bất sản Bài 121 – Biết sự khác nhau trong điều trị cơn bất sản và thiếu máu bất sản – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 121 – Biết sự khác nhau trong điều trị cơn bất sản và thiếu máu bất sản



Heidi Herrera MD

Nên làm gì?

Thiếu máu có thể xuất hiện ở trẻ em khỏe mạnh, hoặc mắc bệnh hệ thống hoặc bệnh về máu. Thiếu máu được định nghĩa là giảm khối lượng hồng cầu (RBC) hoặc nồng độ hemoglobin trong máu, dẫn đến giảm khả năng vận chuyển oxy. Thiếu máu có thể biểu hiện đơn độc (nhiễm parvovirus B19) hoặc mất nhiều dòng tế bào, có sự tham gia của tủy xương (thiếu máu bất sản). Do đó, trẻ em có biểu hiện thiếu máu với các triệu chứng liên quan nên được đánh giá cẩn thận để kịp thời xây dựng chẩn đoán phân biệt, dự đoán tình trạng đe dọa tính mạng, xác định chẩn đoán và bắt đầu điều trị thích hợp.

Cơn bất sản là bệnh nhiễm trùng do parvovirus B19 ở người lây truyền qua tiếp xúc nước bọt hoặc hô hấp bị nhiễm các loại virus như cytomegalovirus, virus Epstein-Barr và vi-rút gây suy giảm miễn dịch ở người. mục tiêu của Virus này nhằm vào các tế bào tiền thân của hồng cầu trong tủy xướng và gắn vào thụ thể kháng nguyên P, dẫn đến giảm bạch cầu hạt và ức chế erythropoietic. Việc sản xuất RBC bị dừng trong khoảng 10 ngày. Ở những bệnh nhân bị bệnh hồng cầu hình liềm, các RBC chỉ sống trong 10 đến 15 ngày. Do đó, những bệnh nhân này bị ảnh hưởng nghiêm trọng và sẽ bị giảm đáng kể số lượng máu, dẫn đến suy tim sung huyết, tai biến mạch máu não, và ứ máu lách cấp. Việc xác định chẩn đoán parvovirus B19 được thực hiện bằng xét nghiệm DNA. Bệnh nhân thiếu máu bất sản thoáng qua hoặc suy giảm miễn dịch sẽ không dương tính với immunoglobulin (Ig) M hoặc IgG với kháng thể đặc hiệu B19 và vẫn dễ lây lan. Điều trị bao gồm truyền máu đơn thuần để điều chỉnh tình trạng thiếu máu nặng và ngắn biến chứng suy đa tạng. Sau nhiễm virus, bệnh nhân sẽ miễn dịch suốt đời với parvovirus B19

Thiếu máu bất sản là tình trạng suy tủy  đặc trưng bởi giảm hồng cầu ngoại vi và thiểu sản tủy. Thiếu máu bất sản có thể là bẩm sinh (thiếu máu Fanconi, Shwachman-Diamond, hemoglobin niệu ban đêm, giảm tiểu cầu do mất mẫu tiểu cầu -amegakaryocytic) hoặc mắc phải (bệnh nguyên phát, mang thai, nhiễm virus: viêm gan, virus Epstein-Barr, virus suy giảm miễn dịch ở người, Parvovirus, mycobacteria). Thiếu máu bất sản cũng liên quan đến việc tiếp xúc với các chất như benzen, bức xạ, thuốc (chloramphenicol, carbamazepine, phenytoin, quinin, phenylbutazone). Chẩn đoán có thể được xác định bằng sinh thiết tủy xương. Việc điều trị bao gồm ức chế miễn dịch hoặc ghép tủy xương cho những trường hợp nặng hơn. Dùng đợt ngắn globulin kháng tế bào tuyến ức và vài tháng cyclosporin để giúp điều chỉnh hệ thống miễn dịch. Hóa trị nhẹ (cyclophosphamide và vincristine) có thể có hiệu quả. Steroid, mặc dù thường được sử dụng, nhưng không hiệu quả. Thiếu máu bất sản không được điều trị dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng và tử vong trong vòng 6 tháng. Nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời ngay lập tức, tỷ lệ sống tăng lên đáng kể trong vòng 5 đến 10 năm tới. thiếu máu bất sản hay tái phát

Bác sĩ nhi nên nghi ngờ cao độ với bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu là triệu chứng chính. Cần đánh giá nhanh và kỹ ở bệnh nhân nặng kèm xét nghiệm khi nghi ngờ. Bệnh nhân bị cơn bất sản chỉ cần truyền máu tới khi tủy phục hồi. Trẻ bị thiếu máu bất sản sẽ phải sinh thiết tủy và điều trị nếu chẩn đoán xác định 


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn