» Bài 104 – Biết khi nào phải kiểm tra protein niệu ở trẻ em Bài 104 – Biết khi nào phải kiểm tra protein niệu ở trẻ em – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 104 – Biết khi nào phải kiểm tra protein niệu ở trẻ em



William Giasi Jr. MD

Nên làm gì?

Việc phát hiện protein qua xét nghiệm nước tiểu thường quy là một phát hiện thông thường. Sự hiện diện của nó có thể là một tình trạng lành tính hoặc có thể là một dấu hiệu đáng lo ngại về bệnh nhu mô thận và suy thận. Do đó, người bác sĩ phải biết sự khác biệt và làm theo một trình tự hợp lý để phân biệt các nguyên nhân khác nhau.

Trong thận bình thường, màng nền cầu thận cho phép các phân tử nhỏ di chuyển vào trong ống thận đồng thời hạn chế sự đi qua của các đại phân tử. Sự bài tiết protein bình thường bị ảnh hưởng bởi tính thấm của màng nền cầu thận và các cơ chế tái hấp thu của ống thận. Tổn thương thận làm tăng tính thấm hoặc giảm sự tái hấp thu ống thận dẫn đến mất protein. Tổn thương cầu thận dẫn đến việc mất các protein trọng lượng phân tử trung bình (albumin) và các đại phân tử lớn hơn. Tổn thương ống thận dẫn đến sự đào thải các protein trọng lượng phân tử thấp hơn do giảm bớt sự tái hấp thu.

Giới hạn trên của bài tiết protein hàng ngày là 100 mg/m2. Ở người lớn giới hạn mức bài tiết protein bình thường được xác định là 150 mg/ngày. Khoảng một nửa protein được bài tiết ra từ huyết tương, với albumin là đại diện lớn nhất. Giới hạn trên của bài tiết albumin là 30 mg / ngày.

Protein niệu được phát hiện bằng nhiều phương pháp. Thử nghiệm phổ biến nhất là que thử nước tiểu. Que thử nước tiểu chỉ có thể đo nồng độ albumin và không thể xác định số lượng protein được bài tiết ra. Kết quả que thử thường được báo cáo là âm tính, dấu vết, 1+ (khoảng 30 mg / dL), 2+ (khoảng 100 mg / dL), 3+ (khoảng 300 mg / dL) và 4+ (khoảng 2.000 mg/dL). Ngược lại, xét nghiệm acid sulfosalicylic có thể phát hiện nồng độ của tất cả các protein trong nước tiểu.

Có thể định lượng tương đối protein bài tiết qua nước tiểu qua nước tiểu 24 giờ. Một phép đo bán định lượng có thể đạt được qua tỷ protein/creatinine nước tiểu. Sự bài tiết protein niệu >100mg/m2/ngày hoặc protein/creatinin nước tiểu 0,5 protein/mg ở trẻ dưới 2 tuổi, hoặc 0,2 mg protein / mg ở trẻ em trên 2 tuổi là bất thường. Protein/creatinine nước tiểu > 3 gợi ý protein niệu của bệnh thận. Protein niệu trong bệnh thận được được xác định khi >1.000 mg/m2/ngày.

Protein niệu không triệu chứng được định nghĩa là mức bài tiết protein vượt quá giới hạn trên theo tuổi của trẻ và nói chung <1g / ngày mà không có biểu hiện lâm sàng như phù, tiểu máu, thiểu niệu và cao huyết áp. Tỷ lệ protein niệu không triệu chứng dao động từ 5% đến 10%. Protein niệu không triệu chứng có thể được phân thành một số loại: thoáng qua, đứng hoặc tư thế, và dai dẳng.

Protein niệu không triệu chứng thoáng qua xảy ra trong 30% đến 50% trẻ em. Thường liên quan đến tập thể dục, căng thẳng, sốt, suy tim sung huyết, lạnh cực độ, và sau phẫu thuật ổ bụng hoặc co giật.

Protein niệu do đứng hoặc tư thế được định nghĩa là sự bài tiết protein tăng lên khi đứng thẳng so với khi nằm. Tình huống này xảy ra trong những hoàn cảnh bình thường; tuy nhiên mức bài tiết protein thường thấp hơn ngưỡng phát hiện. Protein niệu thường không vượt quá 1 đến 1,5 g mỗi ngày. Có thể có 60 đến 70% trẻ có protein niệu.

Protein niệu không triệu chứng dai dẳng được đặc trưng bởi sự bài tiết protein trong thời gian dài mà không có triệu chứng hoặc bằng chứng lâm sàng về bệnh thận và không có protein niệu tư thế. Sự vắng mặt của các dấu hiệu thận khác không loại trừ bệnh thận. Chẩn đoán phân biệt bao gồm protein niệu lành tính, viêm thận cầu thận cấp,

Bệnh cầu thận tối thiểu, bệnh cầu thận màng, bệnh cầu thận xơ hóa ổ đoạn, bệnh cầu thận tăng sinh màng, lupus, bệnh Henrico-Schönlein, viêm thận kẽ mạn tính, thận ứ nước, bệnh thận đa nang, giảm sản/loạn sản thận và bệnh thận trào ngược (reflux nephropathy)

Đánh giá protein niệu nên bắt đầu với một bệnh sử y khoa hoàn chỉnh và tìm kiếm các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh thận. Ít nhất phải có thêm 2 lần XN nước tiểu cho bệnh nhân có protein niệu; tỷ protein/creatinine nước tiểu ở mẫu nước tiểu sáng sớm và xét nghiệm nước tiểu từ lần khám tại phòng khám. Nếu tỷ lệ protein/creatinin trong nước tiểu nằm trong giới hạn bình thường và xét nghiệm nước tiểu bình thường, có thể bệnh nhân có protein niệu thoáng qua. Một protein urine/creatinine bình thường ở mẫu nước tiểu đầu tiên buổi sáng và sự hiện diện của đạm niệu dương dương tính trong phòng khám là dấu hiệu của protein niệu tư thế. Cuối cùng, nếu tỷ lệ protein/creatinine mẫu nước tiểu đầu tiên buổi sáng và phân tích nước tiểu là bất bình thường, nó là dấu hiệu cho thấy có thể protein niệu kéo dài và cần phải đánh thêm.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net