» Bài 100 – Tránh sự điều chỉnh quá mức hạ natri máu vì nó có thể khiến bệnh nhân của bạn có nguy cơ hủy myelin não Bài 100 – Tránh sự điều chỉnh quá mức hạ natri máu vì nó có thể khiến bệnh nhân của bạn có nguy cơ hủy myelin não – Y học online

Lỗi cấp cứu nhi

Bài 100 – Tránh sự điều chỉnh quá mức hạ natri máu vì nó có thể khiến bệnh nhân của bạn có nguy cơ hủy myelin não



Craig DeWolfe MD

Nên làm gì?

Hạ natri máu có thể xuất hiện trong nhiều tình trạng bệnh lý và đòi hỏi phải được đánh giá cẩn thận, điều trị và theo dõi để tránh những hậu quả của sự di chuyển dịch nhanh chóng vào trong não. Nồng độ natri (Na) được duy trì ở mức sinh lý từ 135 đến 145 mEq / L bằng cách cân bằng lượng muối và nước nhập vào và bài tiết ra. Các tế bào trong cơ thể phản ứng với nồng độ natri khác nhau trong huyết thanh bằng cách vận chuyển nước qua một quá trình thẩm thấu, nhưng không nơi nào trong cơ thể vận chuyển nhạy như trong các tế bào não. Nếu một bệnh nhân có biểu hiện cấp tính của giảm natri huyết, thường thấy trong quá trình hydrat hoá tĩnh mạch và biểu hiện triệu chứng bệnh não do hạ natri máu, BN sẽ được lợi từ việc điều chỉnh nhanh natri máu. Tuy nhiên, nếu một bệnh nhân đã phát triển giảm natri huyết từ từ, người đó có thể tương đối không có triệu chứng nhưng có nguy cơ thoái hóa myelin não (ví dụ: hủy myelin cầu não trung ương) liên quan đến việc điều chỉnh đột ngột nồng độ natri máu. Khai thác bệnh sử tốt và có một sự hiểu biết về mức độ nguy kịch của hạ natri máu sẽ giúp bảo vệ bệnh nhân khỏi bất kỳ hậu quả nào của việc điều chỉnh natri máu quá nhanh.

Bệnh nhân bị mất nước, có phẫu thuật gần đây, hoặc có rối loạn hô hấp hoặc hệ thần kinh trung ương và đã được điều trị bằng dịch nhược trương có nguy cơ phát triển bệnh não do giảm natri máu do do vận chuyển dịch nhanh dẫn đến phù não. Chúng thường biểu hiện cấp tính với ngủ lịm, bồn chồn, co giật, ngừng thở, hoặc hôn mê. Trong những trường hợp này, điều trị nhanh chóng với dung dịch muối 3% theo hướng dẫn của chuyên gia là có lợi. Việc điều trị nên được hướng tới việc tăng natri huyết thanh lên 1 mEq/L/h cho đến khi bệnh nhân tỉnh táo và không bị co giật, natri huyết thanh tăng 20 mEq/L hoặc đạt được mức natri huyết thanh là 125 mEq/L . Một mL/kg natri clorua 3% sẽ làm tăng natri huyết thanh khoảng 1 mEq/L. Không nên dùng hypertonic (3% muối) trong giảm natri máu không có triệu chứng do những nguy cơ dịch của việc bù nhanh.

Bệnh nhân bị giảm natri huyết trong khoảng thời gian từ 24 đến 48 giờ hoặc hơn nên điều chỉnh natri từ từ. Dữ liệu lâm sàng trên động vật và hồi cứu cho thấy nên điều chỉnh chậm natri < 0.5 mEq Na mỗi giờ, với mục tiêu điều chỉnh từ 15 đến 20 mEq trong 48 giờ sẽ hạn chế nguy cơ thoái hóa myeline trong não. Sự hủy myeline não, khi liên quan đến vùng cầu não, được gọi là sự thoái hóa myelin cầu não trung ương và đặc trưng bởi sự chậm trễ của triệu chứng từ 2-7 ngày. Bệnh nhân có thể có rối loạn vận ngôn, nuốt khó, liệt cứng chi dưới, và giả hôn mê với “hội chứng khóa trong”. Các vết thương ở bên ngoài vùng cầu não có khuynh hướng xuất hiện một cách biến đổi hơn, với các rối loạn vận động như thất điều và tình trạng tinh thần thay đổi, bao gồm hôn mê . Ở vùng còn lại, sự gián đoạn nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong. Cần tính toán cẩn thận nhu cầu của natri và nước với lượng vẫn đang mất đi cùng kiểm tra điện giải thường xuyên, thường là mỗi giờ từ khi bắt đầu điều trị, sẽ giúp bảo vệ bệnh nhân khỏi các hội chứng thần kinh này. Ngoài ra, hạn chế dịch có thể giúp trong một số trường hợp giảm natri máu mạn tính có tăng thể tích máu.

Tình trạng hydrat hóa của bệnh nhân và nồng độ natri nước tiểusẽ giúp ích trong quá trình chẩn đoán và điều trị. Nếu bệnh nhân bị mất nước và có nước tiểu pha loãng (Na <30 mEq / L), chẩn đoán phân biệt bao gồm mất qua da bằng cách đổ mồ hôi hoặc bỏng hoặc tổn thương đường tiêu hóa như nôn mửa và tiêu chảy. Nếu bệnh nhân giảm thể tích có nồng độ natri nước tiểu cao (nước tiểu có Na> 30 mEq/L), bác sĩ nên xem xét các nguyên nhân như thuốc lợi tiểu, mất muối do não hoặc thận, hoặc thiếu mineralocorticoid. Ở những bệnh nhân giảm thể tích, việc khôi phục lại thể tích lòng mạch với 1 đến 3 normal saline trước khi điều chỉnh nồng độ natri trong dịch.

 Trong bệnh nhân giảm thể tích có natri nước tiểu thấp, hãy xem xét suy tim sung huyết hoặc hội chứng thận hư, trong khi natri nước tiểu cao thì nên cân nhắc suy thận mạn tính. Trong mỗi trường hợp này, người bác sĩ phải xử lý nguyên nhân cơ bản và sử dụng dịch hạn chế. Cuối cùng, ở những bệnh nhân có thể tích máu bình thường, người bác sĩ nên xem xét các nguyên nhân như hội chứng tiết ADH không thích hợp, suy tuyến yên, suy giáp hoặc ngộ độc nước do bệnh uống nhiều nguyên phát hoặc do điều trị dịch nhược trương. Ở những bệnh nhân này, sự hạn chế dịch là trọng tâm của việc điều trị.

  Nguyên nhân và mức độ nặng của hạ natri máu có thể ảnh hưởng đến tốc độ điều chỉnh natri cho hiệu quả và an toàn. Nếu bệnh nhân có triệu chứng cấp tính, cần điều trị nhanh chóng cho đến khi các triệu chứng đã được giải quyết hoặc cho đến khi nồng độ natri máu tăng lên 20 mEq/l hoặc nồng độ natri máu đạt 120 đến 125 mEq / dL, tùy theo điều kiện nào đạt được trước. Sau đó, thận trọng với việc điều chỉnh natri, đảm bảo rằng mức natri không bị thay đổi > 0.5 mEq/L/h. Điều này sẽ giúp bảo vệ bệnh nhân khỏi bất kỳ hậu quả nào của tổn thương ban đầu.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn