7. NÊN NGHI NGỜ HỘI CHỨNG CHÈN ÉP KHOANG Ở BỆNH NHÂN CÓ GÃY XƯƠNG CHÀY DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa 7. NÊN NGHI NGỜ HỘI CHỨNG CHÈN ÉP KHOANG Ở BỆNH NHÂN CÓ GÃY XƯƠNG CHÀY DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Lỗi cần tránh trong ngoại khoa

7. NÊN NGHI NGỜ HỘI CHỨNG CHÈN ÉP KHOANG Ở BỆNH NHÂN CÓ GÃY XƯƠNG CHÀY DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG



Hội chứng chèn ép khoang là biến chứng nặng xuất hiện sau chấn thương cấp và mạn.

Nó xảy ra khi áp lực kẽ trong khoang kín tăng lên đủ để chèn ép làm giảm tưới máu mô và gây thiếu máu cục bộ thần kinh và hoại tử cân cơ. Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng có thể khác nhau do nhiều yếu tố như đau do chấn thương, ngón tay ngón chân di chuyển, tê bì, dị cảm, liệt (mất cảm giác rung là dấu hiệu sớm) và mất mạch chi ở đầu xa  

THEO DOĨ

Chấn thương nên nghi ngờ hội chứng chèn ép khoang khi có gãy xương chày. đặc biệt gãy mâm chày. Điều đáng quan tâm là tỷ lệ mắc hội chứng chèn ép khoang cao hơn ở gãy xương kín so với gãy hở. hội chứng chèn ép khoang có thể dẫn đến  tổn thương khoang bất kỳ trong 4 khoang sau gãy xương chày nhưng thường gặp nhất ở khoang sau sâu, sau đó là khoang phía trước. Các dấu hiệu lâm sàng cụ thể của hội chứng chèn ép khoang ở khoang sau sâu là khó gấp ngón chân và xoay mắt cá chân vào trong, giảm cảm giác trên bề mặt gan bàn chân và  đau khi uốn cong ngón chân thụ động. Các dấu hiệu chèn ép khoang phía trước gồm giảm cảm giác ở da giữa ngón cái và ngón thứ 2, đau khi uốn cong ngón chân thụ động, đau dữ dội và đau ở cơ vị trí gãy xương. Ngoài ra, bất kỳ dấu hiệu đau tăng sau bó bột cần nghi ngờ hội chứng chèn ép khoang. Điều quan trọng các dấu hiệu lâm sàng có thể không xuất hiện trong tối đa 24h

PHẢI LÀM GÌ

Ngoài đánh giá lâm sàng, cần đo áp lực khoang, đặc biệt nếu bệnh nhân có nhiều vết thương nặng không thể hợp tác khi khám lâm sàng. Sử dụng kim hoặc catheter 18 gauge gắn vào thiết bị cầm tay của Stryker. Việc đo áp lực khoang nên được thực hiện hoặc giám sát bởi bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm, tốt nhất là bác sĩ phẫu thuật sẽ thực hiện phẫu thuật nếu có chỉ định. Điều quan trọng là tất cả bốn khoang chân đều được đánh giá, cẩn thận để có được số đo càng gần vị trí gãy xương càng tốt, bởi vì càng xa thì chỉ số có xu hướng đánh giá thấp áp lực. Vị trí kim chọc phải vô trùng để tránh nguy cơ nhiễm trùng khối máu tụ ở vùng xương gãy.

Có một số tranh cãi về thời gian đọc áp suất khoang và chỉ số nào dùng chẩn đoán hội chứng chèn ép khoang. Cổ điển thì áp lực lớn hơn 30-35mmHg là có chỉ định phẫu thuật mở giải áp ngay cả khi khám lâm sàng bình thường. Điều này dẫn đến tỷ lệ mở cân giải áp khoảng 50% đối với gãy xương chày. Các báo cáo gần đây đã chỉ ra sự an toàn của việc sử dụng chênh lệch áp suất giữa áp suất khoang và áp suất tâm trương để xác định khả năng phải phẫu thuật. đồng thuận là khi chênh lệch này giảm  xuống dưới 20 đến 30 mm Hg, có chỉ định mở cân. Điều này dẫn đến tỷ lệ mở cân từ  3% đến 5%, với độ đặc hiệu cao cho hội chứng chèn ép khoang. Mặc dù các hướng dẫn còn đang tiếp tục hoàn thiện nhưng có vẻ hợp lý khi đo sau 6-12h trong 24-36h đầu tiên để tránh bỏ sót hội chứng chèn ép khoang tiến triển muộn Một lưu ý cuối cùng là có nhiều báo cáo trường hợp hội chứng chèn ép khoang tiến triển sau thời gian đánh giá ban đầu hoặc sau khi mổ gãy xương bỏ sót chẩn đoán, và do dùng giảm đau che lấp mất triệu chứng lâm sàng đang xấu dần đi.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net