» Bài 75- Hội Chứng Boerhaave: Không Phải Đau Ngực Đe Dọa Tính Mạng Nào Cũng Do Tim Và Phổi Bài 75- Hội Chứng Boerhaave: Không Phải Đau Ngực Đe Dọa Tính Mạng Nào Cũng Do Tim Và Phổi – Y học online

Lỗi cần tránh trong cấp cứu

Bài 75- Hội Chứng Boerhaave: Không Phải Đau Ngực Đe Dọa Tính Mạng Nào Cũng Do Tim Và Phổi



Hội chứng Boerhaave là tình trạng thủng thực quản tự phát. Nó thường do chấn thương áp khí liên quan đến nôn ọe hoặc bất kỳ tình trạng nào làm tăng đột ngột áp lực trong ổ bụng chống lại thanh môn đang đóng. Thủng thực quản hiếm xảy ra và hội chứng Boerhaave còn hiếm hơn, chỉ chiếm khoảng 15% các trường hợp. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong do bệnh thay đổi từ ~8% đến 60% và tăng đáng kể nếu trì hoãn điều trị. Mặc dù chúng ta đã biết đến hội chứng này cách đây hơn 200 năm, tỷ lệ tử vong vẫn còn cao do các triệu chứng không đặc hiệu và dẫn đến chậm trễ chẩn đoán. 

Cổ điển, chúng ta liên tưởng hội chứng Boerhaave với đau ngực sau xương ức, nôn, và tràn khí dưới da (tam chứng Mackler). Giống như nhiều chẩn đoán khó khác, những triệu chứng cổ điển này hiếm khi xuất hiện đồng thời. Khoảng 25% đến 45% các bệnh nhân không có tiền sử nôn, và thậm chí không tràn khí dưới da. Chẩn đoán hội chứng Boerhaave nên được nghi ngờ ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau ngực sau xương ức, đau cổ, hoặc đau thượng vị, đặc biệt là nếu nó bắt đầu sau một cơn nôn hoặc chống lại thanh môn đang đóng (nâng vật nặng, đại tiện, sinh đẻ, vv). Vị trí đau thường tương ứng với vị trí đứt thực quản, phổ biến nhất là đầu xa phía bên trái. Lưu ý rằng mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng có thể rất thay đổi phụ thuộc vào thời gian từ lúc thủng thực sự, thay đổi từ đau sau xương ức, tới suy hô hấp, sốc nhiễm khuẩn, và suy đa tạng. Chìa khóa để chẩn đoán hội chứng Boerhaave đơn thuần là cân nhắc đến chẩn đoán. Tuy nhiên, nhiều trường hợp được chẩn đoán tình cờ trên phim xquang ngực cho thấy khí trung thất, tràn khí dưới da, tràn khí màng phổi, hoặc tràn dịch màng phổi. Mặc dù tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán vẫn là chụp thực quản cản quang (bằng Gastrografin), cắt lớp vi tính (CT) ngày càng sẵn có hơn, và CT ngực cản quang thường có thể gợi ý thủng thực quản thông qua phát hiện phù thực quản, dịch quanh thực quản, hoặc khí trong trung thất hoặc khoang màng phổi. Thêm vào đó, nếu nghi ngờ cao độ trên lâm sàng, CT thực quản cản quang có thể được thực hiện với chất cản quang đường uống được pha loãng cho phép hình dung vị trí cụ thể bị thủng. Mặc dù nội soi có thể hỗ trợ chẩn đoán hội chứng Boerhaave, nó thường không được khuyến cáo do nguy cơ làm rộng thêm vết rách do chấn thương trực tiếp hoặc bơm.

Một khi chẩn đoán hội chứng Boerhaave, điều trị nên được tiến hành nhanh chóng. Ngay cả khi bệnh nhân ban đầu có vẻ ổn, sự mất bù có thể nhanh chóng. Bệnh nhân bị hội chứng Boerhaave nên được coi là bệnh nặng và theo dõi sát, đặc biệt là tình trạng hô hấp. Nhiều bệnh nhân sẽ có biểu hiện mất nước và đòi hỏi truyền dịch trong khi duy trì việc nhịn ăn uống (NPO). Kháng sinh phổ rộng đường tĩnh mạch nên được dùng sớm để bao phủ các vi khuẩn đường ruột. Thuốc ức chế bơm proton cũng có thể được cân nhắc, để giảm mức độ của viêm trung thất do hóa chất và viêm màng phổi.

Cuối cùng, điều trị hội chứng Boerhaave là phẫu thuật sớm hoặc nội soi sửa chữa. Tham vấn ngoại khoa nên được thực hiện sớm nếu nghi ngờ chẩn đoán, sửa chữa sớm đã được chứng minh là giảm tỷ lệ tử vong. Tuy vậy, ở một số dưới nhóm của thủng thực quản, chẳng hạn thủng phần cổ, hoặc vết thủng bị giới hạn bởi dịch thoát mạch, điều trị không phẫu thuật có thể được cân nhắc.

ĐIỂM QUAN TRỌNG

·           Hội chứng Boerhaave là một bệnh hiếm và gần như luôn gây tử vong nếu không được điều trị.

·           Cân nhắc đến hội chứng này ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau ngực sau xương ức.

·           Điều trị ban đầu với truyền dịch và kháng sinh phổ rộng

·           Tham vấn phẫu thuật ngay khi nghi ngờ chẩn đoán để phẫu thuật sớm hoặc nội soi sửa chữa.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn