» Bài 4 – Xử trí ngừng tim Bài 4 – Xử trí ngừng tim – Y học online

Lỗi cần tránh trong cấp cứu

Bài 4 – Xử trí ngừng tim



Ngừng tim (CA) có thể được định nghĩa là mất chức năng tim cấp, xảy ra ngay lập tức hoặc sau một loạt các triệu chứng, cuối cùng dẫn tới ngừng tuần hoàn.

Về lâm sàng, ba đặc điểm đặc trưng của CA là vô mạch, không đáp ứng và thở bất thường – hoặc hấp hối hoặc ngưng thở. Tỷ lệ ước tính hàng năm của CA ngoại viện ở bất kỳ nơi nào trong khoảng từ 250,000 đến 420,000 và vẫn còn là một trong những nguyên nhân tử vong thường gặp nhất ở Mỹ. Có vô số nguyên nhân kèm theo gây CA với bệnh tim thiếu máu cục bộ là nguyên nhân thường gặp nhất. Có bốn rối loạn nhịp dẫn tới CA. Đầu tiên là rung thất và nhịp nhanh thất vô mạch (VF/pVT)—hai loại này có khả năng sốc điện với kết quả tốt. Hai loại còn lại không có khả năng sốc điện gồm hoạt động điện vô mạch (PEA) và vô tâm thu. Thậm chí trong số những bệnh nhân được xử trí trước khi vào viện bởi team cấp cứu EMS (emergency medical service), tỉ lệ sống sót xuất viện với kết cục tốt chỉ xấp xỉ 8%. Tuy nhiên, ở một vài nơi cho thấy tỷ lệ sống sót đạt gần 50% gợi ý rằng vẫn còn có khả năng cải thiện trong xử trí CA. Sự chênh lệch này có vẻ như không nằm trong những kĩ thuật mới hoặc chuyên sâu đang được sử dụng, đúng hơn là nó nằm ở vấn đề thực hiện như nào để cấp cứu CA nhanh chóng và hiệu quả.

Dù xảy ra ở nhà, ở nơi công cộng hoặc ở trong bệnh viện thì phát hiện nhanh chóng CA là quan trọng nhất. Kích hoạt sớm hệ thống đáp ứng cấp cứu, bắt đầu hồi sinh tim phổi chất lượng cao (high-quality cardiopulmonary resuscitation – CPR) và sử dụng hợp lý thiết bị khử rung ngoài cơ thể tự động là tối quan trọng. CPR nhanh chóng có thể ngăn quá trình chuyển nhịp có thể sốc thành nhịp không thể suất, làm tăng khả năng khử rung thành công, cơ hội sống sót và hạn chế di chứng thần kinh.

Đáng tiếc là chưa tới một nửa số bệnh nhân ngưng tim ngoài bệnh viện sẽ được tiến hành CPR bởi người xung quanh và AEDs được sử dụng <10% số lần cấp cứu. Thậm chí với những tiến bộ trong công nghệ mới gần đây, những thao tác cơ bản đặc biệt khử rung sớm và CPR chất lượng cao vẫn là biện pháp chính trong hồi sức CA.

Lỗi thường gặp nhất trong CPR chất lượng cao là tần số và độ sâu của ép tim không phù hợp. Với bàn tay đặt lên nửa dưới xương ức của bệnh nhân, nên ép với tần số 100 tới 120 lần mỗi phút với độ sâu tối thiểu là 2 inches (5 cm) và không quá 2.5 inches (6 cm). Người ép tim nên để lồng ngực đàn hồi tối đa giữa các lần ép và tránh tựa vào ngực.

Tỉ lệ thông khí thích hợp cũng quan trọng. Một người cấp cứu nên thực hiện ép tim và thông khí với tỉ lệ là 30:2. Khi có thêm người trợ giúp, nên thực hiện thông khí mỗi nhịp là 6s (10 nhịp mỗi phút).

Bất kì sự dừng trong quá trình ép tim nên được hạn chế không quá 10 giây. Điều này có nghĩa là hồi sức CA vô dụng nếu mất thời gian trên 10s vào những việc như kiểm tra nhịp thở, mạch, phân tích nhịp, sạc để phá rung,… ép tim phải tiếp tục ngay lập tức sau khi sử dụng sốc điện và phải chiếm ít nhất 60% tổng thời gian hồi sức.

Khi CPR chất lượng cao ít gián đoạn, các nghiên cứu đã chứng minh tỷ lệ khử rung tim thành công cao hơn, tái lập tuần hoàn tự phát (ROSC), và sống sót nhiều hơn khi xuất viện. Có những biện pháp điều trị khác bổ sung và cân nhắc để xử trí CA. tuy nhiên, CPR có hiệu quả cao và sốc điện sớm vẫn là 2 trong số những can thiệp có lợi và quan trọng nhất.

Các loại thuốc trong CA cũng có vai trò nhưng sẽ được thảo luận ở bài khác. Việc sử dụng các thuốc này không bao giờ được ưu tiên hơn so với CPR chất lượng cao.

Quyết định bảo vệ đường thở ví dụ, đặt ống nội khí quản (ETT), so với sử dụng thông khí túi mặt nạ thường gặp ở CA. Nếu đặt ETT, cần đánh giá ETC02 để xác định chính xác vị trí của ống NKQ

Biểu đồ dạng sóng cũng là một trong nhiều thông số có thể dùng trong quá trình xử trí CA. Nó giúp đánh giá thời gian phục hồi về tình trạng của bệnh nhân và hỗ trợ đánh giá hiệu quả của CPR và phát hiện sớm ROSC. Tại thời điểm 2018, không có nghiên cứu nào chứng minh dứt khoát các kết quả sống sót hoặc thần kinh được cải thiện bằng cách sử dụng chúng. Hướng dẫn (ACLS) năm 2015 vẫn bao gồm các giá trị ngưỡng cho ETCO2 (<10 mm Hg) và pha thư giãn tâm trương trên dạng sóng động mạch (<20 mm Hg) làm giá trị để khuyến khích CPR tốt hơn. Họ cũng lưu ý sự gia tăng đột ngột chỉ số ETCO2 trên 40 mm Hg hoặc sóng áp lực động mạch tự phát gợi ý đã ROSC.

Cuối cùng, siêu âm cũng áp dụng trong xử trí CA. với người siêu âm có kinh nghiệm, có thể xác nhận vị trí ETT cũng như đánh giá các nguyên nhân có thể đảo ngược của CA như chèn ép tim, tràn khí màng phổi, giảm thể tích máu khi có mặt của PEA trong CA. Nhìn chung, dữ liệu vẫn còn hạn chế tại thời điểm này để cho thất bất kỳ lợi ích lâu dài nào.

Nói chung, hồi sức CA phải luôn luôn có người chỉ huy, chú ý đảm bảo việc CPR chất lượng cao.

  • Hướng dẫn cập nhật điều trị theo phác đồ 2018 tập 2 hot icon

    Chương mới nhất: Bài 9 Khí máu động mạch

  • Avoiding Errors in General Practice hot icon

    Chương mới nhất: Case 40 A middle-aged man with an ankle injury

  • Sổ tay luyện dịch tài liệu y khoa hot icon

    Chương mới nhất: PHẦN 1 TỪ VÀ MẪU CÂU DIỄN TẢ BỆNH TẬT NÓI CHUNG

  • Khí máu động mạch: Tiếp cận case lâm sàng hot icon

    Chương mới nhất: About the Authors

  • Hướng dẫn quy trình kỹ thuật Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp

    Chương mới nhất: Quy trình 188. Chụp động mạch gan dưới X quang tăng sáng

  • Thuật ngữ y khoa căn bản

    Chương mới nhất:

  • Sơ cấp cứu ban đầu cho sơ sinh và trẻ em hot icon

    Chương mới nhất: Băng treo tam giác

  • Câu hỏi trắc nghiệm

    Chương mới nhất: Thi hết môn chăm sóc bệnh nhân nội khoa lớp 18DD5a1

  • Lỗi cần tránh trong cấp cứu hot icon

    Chương mới nhất: Bài 186- Bạn Đã Từng Cân Nhắc Chỉ Định Liệu Pháp Nhũ Tương Lipid?

  • Core Radiology

    Chương mới nhất: Chương 10 Điện quang can thiệp


  • Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net