» Bài 177- Sử Dụng Canule Mũi Lưu Lượng Cao (Hfnc) Ở Những Bệnh Nhân Suy Hô Hấp Nhẹ Đến Vừa Do Thiếu O2 Máu. Bài 177- Sử Dụng Canule Mũi Lưu Lượng Cao (Hfnc) Ở Những Bệnh Nhân Suy Hô Hấp Nhẹ Đến Vừa Do Thiếu O2 Máu. – Y học online

Lỗi cần tránh trong cấp cứu

Bài 177- Sử Dụng Canule Mũi Lưu Lượng Cao (Hfnc) Ở Những Bệnh Nhân Suy Hô Hấp Nhẹ Đến Vừa Do Thiếu O2 Máu.



Chúng ta thường phân độ bệnh nhân suy hô hấp (respiratory distress) dựa vào mức độ nặng của bệnh. Bệnh nhân với suy hô hấp mức độ nhẹ đến vừa thường còn nói chuyện được với chúng ta và không bị thiếu O2 nặng, thể hiện qua thông số SpO2. Ngược lại, những trường hợp trụy hô hấp nặng có thể có tình trạng thiếu khí nặng (hypoxemia), tăng CO2 máu (hypercarbia), rối loạn tri giác, hoặc dấu hiệu sắp suy hô hấp (ví dụ, nhịp tim rất nhanh, tím tái). Một số bệnh nhân có cả thiếu O2 và tăng CO2 máu.​ Canule mũi lưu lượng cao (High-flow nasal cannula = HFNC) được xem là biện pháp hữu hiệu cho những trường hợp trụy hô hấp do thiếu O2 mức độ nhẹ đến vừa. 

HFNC có thể cung cấp lên đến  60 L/phút O2 nóng, ẩm  cho một người trưởng thành. Ngược lại với mask không thở lại truyền thống (nonrebreather mask) hút khí phòng qua các lỗ bên, HFNC có thể cung cấp  FiO2 gần đạt 100%  vì tốc độ lưu thông dòng (flow rates) vượt quá mức lưu lượng đỉnh nội tại thì hít vào của bệnh nhân (intrinsic peak inspiratory flow). 

HFNC cũng có thể tạo ra một lượng nhỏ  PEEP​(positive end-expiratory pressure), mặc dù điều này vẫn còn  đang tranh cãi​. Một vài nghiên cứu đã gợi ý rằng HFNC có thể tạo ra xấp xỉ  5 đến 8 cm H2O PEEP . Lượng PEEP được tạo ra phụ thuộc vào vị trí ngạnh mũi (nasal prong) và việc miệng bệnh nhân đóng hay mở. Thật không may, PEEP không thể được đo một cách tin cậy bằng các thiết bị này, trong khi nó có thể được đo chính xác với thiết bị thông khí không xâm nhập truyền thống (NIV = noninvasive ventilation) (ví dụ, áp lực đường thở dương liên tục CPAP, áp lực đường thở dương 2 mức BPAP). 

Các tác dụng khác của HFNC bao gồm  giảm khoảng chết  (dead space) trong đường thở trên thông qua việc tống CO2 và tăng thông khí phút. Cuối cùng, khí nóng, ẩm có thể làm  tăng dung nạp  ở bệnh nhân và ​tăng khả năng của hệ thống lông chuyển  (mucociliary clearance).

Hiện tại, bằng chứng tốt nhất cho việc sử dụng HFNC là ở bệnh nhân thiếu O2 đơn độc do viêm phổi  mà không cần kiểm soát đường thở ngay lập tức và thông khí cơ học. Một nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng, đa trung tâm, tiến cứu ở những trường hợp  suy hô hấp thiếu O2​ và cơ hô hấp hoạt động bình thường đã chứng minh lợi ích  giảm tỷ lệ tử vong khi cho bệnh nhân dùng HFNC hơn là NIV.  Quan trọng là, tử vong (mortality) là chỉ tiêu lâm sàng phụ (secondary outcome), và lợi ích (benefit) là chỉ tiêu chính ở nhóm bệnh nhân viêm phổi. Bệnh nhân bệnh phổi mãn bị loại khỏi nghiên cứu này. 

HFNC có thể được sử dụng ở  bệnh nhân thiếu O2 do các bệnh lý khác​ (ví dụ, suy tim sung huyết); mặc dù vậy, bằng chứng ủng hộ cho điều này  không mạnh. 

Sử dụng HFNC ở bệnh nhân suy hô hấp do tăng CO2 máu còn khá hạn chế.  Cần biết là HFNC không tác động trực tiếp lên thể tích lưu thông (tidal volume) hay tần số thở (là 2 yếu tố quyết định thông khí và trao đổi CO2).  Nguy cơ​ khi dùng HFNC ở nhóm bệnh nhân này bao gồm việc sử dụng O2 liều cao có thể làm che giấu chức năng phổi đang ngày càng tệ, làm chậm trễ trong việc quyết định đặt nội khí quản. Kết quả là,  sử dụng HFNC ở bệnh nhân suy hô hấp ưu thán không được khuyến cáo thường quy .  

HFNC cũng được sử dụng để bão hòa oxy dự phòng ( preoxygenation ), cung cấp oxy khi ngưng thở ( apneic​ ​oxygenation​) đối với những bệnh nhân được đặt nội khí quản nhanh (kỹ thuật RSI = rapid sequence intubation). Đáng chú ý nhất, điều này được sử dụng ở những bệnh nhân bệnh nặng béo phì. Mặc dù vậy, không có nghiên cứu nào hiện tại chứng minh hiệu quả của HFNC dùng để bão hòa O2 dự phòng khi so sánh với mask không thở lại và canule mũi. 

Với kích thước của thiết bị này và thiếu hụt các dữ liệu lâm sàng mạnh, việc sử dụng HFNC trong những trường hợp này không nên được xem là thường quy. Nếu HFNC được dùng để bão hòa O2 dự phòng ở những bệnh nhân trước khi đặt nội khí quản, cân nhắc sử dụng nghiệm pháp jaw-thrust (đẩy hàm) để duy trì thông thoáng đường thở và tối ưu hóa hiệu quả của HFNC. 

ĐIỂM QUAN TRỌNG

·           1. HFNC cung cấp O2  nóng, ẩm, nồng độ cao  và giúp ​quét sạch khoảng chết  ở đường hô hấp trên.

·           2. Cân nhắc HFNC ở những trường hợp  trụy hô hấp mức độ nhẹ đến vừa thứ phát sau thiếu O2 máu.

·           3. Tình huống lâm sàng lý tưởng để áp dụng HFNC là  viêm phổi và thiếu O2 máu.

·           4. HFNC không nên được sử dụng thường quy ở những trường hợp suy hô hấp tăng CO2 máu. ​NIV ​là lựa chọn tốt hơn.

·           5. Tại thời điểm hiện tại, HFNC không cho thấy có hiệu quả trong việc bão hòa oxy dự phòng (preoxygenation) trước đặt nội khí quản khi so sánh với mask không thở lại và canule mũi 15l/phút.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net