» Epinephrine – thuốc lựa chọn trong sốc phản vệ Epinephrine – thuốc lựa chọn trong sốc phản vệ – Y học online

Kinh nghiệm lâm sàng

Epinephrine – thuốc lựa chọn trong sốc phản vệ



Epinephrine: thuốc lựa chọn trong sốc phản vệ

Sốc phản vệ là phản ứng dị ứng cấp tính và có khả năng gây tử vong. Hầu hết các hướng dẫn đồng thuận trong 30 năm qua đã khuyến cáo epinephrine là thuốc được lựa chọn và là loại thuốc đầu tiên nên được dùng trong sốc phản vệ cấp tính.

Sốc phản vệ thường xuất hiện bên ngoài của một cơ sở y tế, ví dụ, sau khi ăn phải thực phẩm hoặc do nọc côn trùng, khởi phát đột ngột và không có tiền triệu. chẩn đoán sốc phản vệ đôi khi rất khó cho các chuyên gia và người dân

Định nghĩa

Phản vệ là phản ứng bảo vệ liên quan tới immunoglobulin E (IgE). Tổ chức Dị ứng thế giới khuyến cáo rằng thuật ngữ này được thay thế bằng miễn dịch (trung gian qua IgE và không qua IgE như IgG) và phản vệ không liên quan miễn dịch. Vì vậy, trong bài viết này, các phản ứng phản vệ đề cập đến cả hai phản vệ miễn dịch và không miễn dịch

Sốc phản vệ

Sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng cấp tính đa cơ quan và có khả năng gây chết người, trong đó có 1 hoặc tất cả các dấu hiệu và triệu chứng sau: phát ban đỏ, ngứa, nổi mề đay và / hoặc phù mạch; co thắt phế quản; phù thanh quản; hạ huyết áp; rối loạn nhịp tim; cảm giác điều không may sắp xảy ra; bất tỉnh và sốc. các dấu hiệu và triệu chứng khác trước hoặc đồng thời có thể bao gồm ngứa mũi, mắt, họng, cơ quan sinh dục, lòng bàn tay và lòng bàn chân; chảy nước mũi; thay đổi giọng nói; vị kim loại trong mồm; buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng và đầy hơi; lâng lâng; đau đầu; co thắt tử cung và có làn da ấm áp

Viện dị ứng Quốc gia và bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ đã triệu tập 16 quốc gia khác đề xuất tiêu chuẩn lâm sàng để thiết lập tiêu chuẩn có thể làm tăng độ chính xác trong chẩn đoán sốc phản vệ .Trong định nghĩa đề xuất như sau: “Sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng khởi phát nhanh và có thể gây tử vong.” Nhóm này đề xuất rằng lâm sàng có khả năng là phản vệ nếu có 1 trong 3 tiêu chí trong vòng vài phút đến vài giờ (1) khởi phát cấp tính trên da, bề mặt niêm mạc hoặc cả hai và ít nhất kèm theo 1 trong các dấu hiệu sau: suy hô hấp, hạ huyết áp hoặc rối loạn chức năng cơ quan đích; (2) 2 hoặc nhiều triệu chứng sau đây xảy ra rất nhanh sau khi tiếp xúc với một dị nguyên có khả năng: biểu hiện trên da hoặc bề mặt niêm mạc, suy hô hấp, hạ huyết áp hoặc rối loạn tiêu hóa dai dẳng và (3) hạ huyết áp tiến triển sau khi tiếp xúc với dị nguyên: huyết áp tâm thu tụt hơn 30% so với ban đầu. Nhóm kết luận rằng những tiêu chí “có khả năng chẩn đoán đúng trong hơn 95% các trường hợp sốc phản vệ.”

sốc phản vệ xảy ra theo 1 chuỗi rối loạn lâm sàng liên tục. Nó có thể bắt đầu với các triệu chứng tương đối nhẹ và nhanh chóng rối loạn hô hấp và tim mạch gây đe dọa tính mạng. Trì hoãn điều trị cho đến khi có rối loạn đa phủ tạng có thể mạo hiểm vì mức độ nghiêm trọng cuối cùng của sốc phản vệ rất khó hoặc không thể dự đoán. Do đó, một số tác giả đề nghị dùng epinephrine khi có triệu chứng của sốc phản vệ, chẳng hạn như ngứa da, ban đỏ, mày đay và phù mạch và bất kỳ triệu chứng toàn thân khác với liều tiêm bắp để ngăn tiến triển nặng hơn

Ngược lại, các triệu chứng rõ ràng với chẩn đoán như ngứa toàn thân, nổi mày đay, phù mạch hoặc đợt cấp mày đay mạn tính không nhất thiết cần điều trị với epinephrine.

Dược tính của Epinephrine

Epinephrien có tác dụng co mạch α-adrenergic đảo ngược giãn mạch ngoại vi, làm giảm bớt hạ huyết áp và cũng làm giảm đỏ da, nổi mề đay và phù mạch. tiêm tại chỗ epinephrine cũng làm giảm hấp thu thêm các kháng nguyên từ một vết cắn hoặc chích. các tính chất β-adrenergic của epinephrin gây giãn phế quản, tăng cung lương tim và co bóp, ức chế giải phóng bạch cầu ưa base. Epinephrine dùng ở nồng độ thấp (ví dụ, 0,1 mg / kg) nghịch lý có thể gây giãn mạch, hạ huyết áp và tăng giải phóng các chất trung gian gây viêm

dùng Epinephrine làm tăng lưu lượng máu mạch vành qua 2 cơ chế trách nhiệm: tăng thời gian tâm trương so với tâm thu và tác dụng giãn mạch gây ra bởi tăng co bóp cơ tim. Những tác dụng này thường bù đắp những tác động gây co mạch epinephrine tới các động mạch vành

Tuy nhiên, dùng epinephrine trong sốc phản vệ không phải lúc nào cũng hiệu quả, và bệnh nhân vẫn có thể chết . Lý do có thể do nhiều yếu tố, bao gồm dùng thuốc chậm, liều lượng không đủ, đường dùng không phù hợp, sử dụng epinephrine đã hết hạn hoặc trên bệnh nhân hen khó kiểm soát, bệnh tim mạch, bệnh dưỡng bào và bệnh hệ thống đang có rối loạn nghiêm trọng. Một nghiên cứu được thực hiện trên chó cũng chứng minh rằng có dùng liều cao epinephrine cũng không phục hồi được huyết động nếu dùng epinephrine trong trường hợp tụt huyết áp tiến triển nặng

Epinephrine có cửa sổ điều trị tương đối hẹp (lợi ích tương đối vs rủi ro; tác dụng dược lý thông thường xảy ra ở liều khuyến nghị dù qua bất cứ đường dùng nào bao gồm kích động, lo âu, run rẩy, nhức đầu, chóng mặt, xanh xao, đánh trống ngực quá liều hoặc truyền tĩnh mạch quá nhanh có thể góp phần hoặc gây thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim, phù phổi, QT kéo dài, loạn nhịp thất, THA và xuất huyết não. Đặc biệt dễ bị tổn thương ở những bệnh nhân cao huyết áp, bệnh mạch máu ngoại biên, bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc cường giáp không được điều trị (tăng số lượng thụ thể β-adrenergic trong các mạch máu làm cơ tim nhạy cảm hơn với tác dụng beta-adrenergic của epinephrine). Một số thuốc cũng có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ do tương tác thuốc . Một số loại thuốc làm giảm hiệu quả do giảm catecholamin nội sinh hoặc thuốc chẹn β-adrenergic, các thuốc ức chế phản ứng bù trừ gây hạ huyết áp (thuốc ức chế men chuyển và ARB), hoặc cản trở tác dụng của epinephrine (thuốc chống trầm cảm ba vòng và các thuốc ức chế monoamine oxidase). Các chất đối kháng β-adrenergic và thuốc đối kháng α-adrenergic ức chế epinephrien. Cocaine và chất kích thích làm tăng tính nhạy cảm của cơ tim đối với tác dụng của epinephrine, do đó tăng nguy cơ ngộ độc

Xử trí sốc phản vệ

Nên chuẩn bị sẵn: (1) ống nghe và máy đo huyết áp; (2), ống tiêm, kim tiêm dưới da, kim nòng lớn (ví dụ 14hoặc 16-gauge); (3) epinephrine 1: 1000 (1 mg trong 1 mL; hiện tại đang kêu gọi sử dụng tên gọi 1 mg trong mL, chứ không phải là tỷ lệ 1: 1000 (4) oxy; (5) bơm tiêm điện (6) canul hoặc mask thanh quản; (7) diphenhydramine hoặc kháng histamin; (8) ranitidine hoặc kháng histamin H2; (9) corticoid tiêm tĩnh mạch; và (10) thuốc co mạch (ví dụ dopamine hoặc norepinephrine). Glucagon, máy khử rung tim tự động [13].

Đánh giá và duy trì đường thở, hô hấp, tuần hoàn là cần thiết trước khi tiến hành các bước xử trí khác. Bn nằm tư thế cao chân được cho là giảm tiên lượng xấu so với đứng hoặc ngồi[34].

Dùng  Epinephrine

Epinephrine nên được dùng đồng thời với các biện pháp trên . Bằng sự đồng thuận của các chuyên gia dựa trên bằng chứng, không có chống chỉ định tuyệt đối với dùng epinephrine trong sốc phản vệ . Nó có thể được dùng với liều thích hợp cho các mức độ nghiêm trọng của các phản ứng, bất kể các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của sốc phản vệ. Tất cả các can thiệp điều trị tiếp theo phụ thuộc vào phản ứng ban đầu với epinephrine.

Tiêm epinephrine

sự đồng thuận chuyên gia và bằng chứng chỉ ra rằng epinephrine 1: 1000 pha loãng (1 mg trong 1 mL), 0,2-0,5 mg (0,01 mg / kg ở trẻ em; liều tối đa, 0,3 mg) tiêm bắp mỗi 5 đến 15 phút hoặc khi cần thiết, tùy thuộc về mức độ nghiêm trọng của các phản ứng phản vệ, nên được sử dụng để kiểm soát các triệu chứng và duy trì hoặc tăng huyết áp. so sánh hiệu quả của tiêm bắp với tiêm dưới da đã không được nghiên cứu trong sốc phản vệ cấp tính. Tuy nhiên, thấy hấp thụ đầy đủ và nhanh chóng hơn nếu tiêm epinephrine ở đùi

Bút tiêm Epinephrine tự động dễ sử dụng, có thể chọc qua quần áo có 2 liều cố định: 0,15 mg và 0,3 mg. liều 0,15 mg epinephrine được khuyến cáo cho trẻ em khỏe mạnh có cân nặng 10-25 kg và 0,3 mg epinephrine cho trẻ em có cân nặng khoảng 25 kg hoặc hơn.

Epinephrine tĩnh mạch

Epinephrine (1: 10.000 hoặc 1: 100.000 pha loãng) nên dùng trong trường hợp ngừng tim hoặc bệnh nhân không đáp ứng hoặc hạ huyết áp nặng mà không đáp ứng với xả dịch truyền tĩnh mạch và tiêm bắp epinephrine .

hít Epinephrine

Một số bác sĩ khuyên bạn nên hít epinephrine thay thế cho tiêm trong sốc phản vệ, nhưng có thể không đạt được nồng độ đỉnh trong huyết tương như tiêm. Không có nghiên cứu so sánh trực tiếp giữa các dạng hít và tiêm bắp epinephrine.

  • Tin tức

    Chương mới nhất:

  • Hướng dẫn cấp cứu tại gia đình hot icon

    Chương mới nhất: CHƯƠNG 13 – CÁC VẤN ĐỀ KHÁC

  • Nhật ký bác sĩ ngoại khoa hot icon

    Chương mới nhất: Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P13 – Viêm mô tế bào?

  • Kinh nghiệm lâm sàng

    Chương mới nhất: TÔI ĐÃ HỌC ĐỌC ECG NHƯ NÀO? (AD PHẠM MINH)

  • Hạ Kali máu

    Chương mới nhất: Hạ Kali máu 1 ( Phạm Minh)

  • Lỗi cần tránh trong ngoại khoa

    Chương mới nhất: 7. NÊN NGHI NGỜ HỘI CHỨNG CHÈN ÉP KHOANG Ở BỆNH NHÂN CÓ GÃY XƯƠNG CHÀY DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG

  • Thủ thuật internet

    Chương mới nhất: Tổng hợp một số code khung viền trang trí

  • Bản chất của ECG hot icon

    Chương mới nhất: Case 66 – 70

  • Bs Phạm Hoàng Thiên hot icon

    Chương mới nhất: Ngất ở trẻ em

  • Các lỗi thường gặp trong lâm sàng hot icon

    Chương mới nhất: Chương V: Thủ thuật tại giường


  • Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net