» Các mẹo trong gây mê Các mẹo trong gây mê – Y học online

Kinh nghiệm lâm sàng

Các mẹo trong gây mê



TIPS TOP IN ANESTHESIA

Một trong những kỹ năng quan trọng của bác sĩ gây mê và một trong những điều khiến chúng ta khác biệt với hầu hết các đồng nghiệp là khả năng duy trì và xử trí đường thở. Trong phần lớn các trường hợp, điều này có thể chỉ cần dùng các kỹ thuật đơn giản nhất. Đối với các trường hợp ngoại lệ cho quy tắc này, sẽ có một vài thủ thuật cần có trong tay áo của bạn.

  1. MỞ KHÍ QUẢN CẤP CỨU

Phương án cuối cùng trong tình huống “không thể đặt nội khí quản / không thể thông khí” là mở khí quản cấp cứu

Một cannula 14-G được chọc qua màng sụn nhẫn giáp có thể giúp oxy hóa (dù có thể không hoàn toàn). Trong lúc vội vàng – bạn nên biết kỹ thuật kết nối cannula của bạn với nguồn cung cấp oxy (02).

Mẹo

  1. Đầu nối chuẩn với kích cỡ 7 .0 COETT sẽ nhét vừa với lòng của xilanh 2ml. xilanh sẽ gắn vào cannula, đầu nối có thể gắn vào bóng tự phồng
  2.  Nòng của xilanh l ml có thể gắn vào đầu oxy trên tường.
  3. Gắn xilanh  l O ml (đã tháo nòng) vào cannula của bạn, sau đó đặt ống nội khí quản (ET) của bạn vào ống này và bơm cuff lên

CẨN THẬN

Áp lực từ ổ cắm trên tường là 4 bar – khá đủ để gây ra chứng tổn thương khí áp nặng. tất nhiên không phải luôn luôn 

Bệnh nhân có thể thở ra. Đánh giá sự trì trệ của kiểu thở. ấn nhẹ nhàng vào ngực để hỗ trợ thở ra.

ĐẶT NKQ QUA MŨI

Để tạo điều kiện cho phẫu thuật vùng miệng và hầu họng, hoặc phòng ngừa bệnh nhân cắn và làm tắc ống NKQ, có thể đặt NKQ qua mũi

Tuy nhiên, nó không phải là không có nhược điểm:

• chảy máu mũi có thể nặng thậm chí gây tử vong khi có rối loạn đông máu.

• thường sẽ có tổn thương đường dẫn khí trong mũi.

• đặt ống có thể gây hoại tử áp lực, đặt biệt nếu để ở mũi trong thời gian dài.

• viêm phổi do thở máy (VAP) tăng đáng kể khi đặt NKQ qua mũi

MẸO

Chuẩn bị mũi với thuốc co mạch. Cocaine có lợi kép khi hạn chế chảy máu và gây tê tại chỗ. Không vượt quá liều an toàn (khoảng 150 mg ở người lớn).

Kiểm tra lỗ mũi nào thông thoáng nhất bằng cách sau khi bệnh nhân ngủ, dùng ngón tay đeo găng nhẹ nhàng nhét vào lỗ mũi

Đường mũi chạy trực tiếp về phía sau, vuông góc với mặt hướng lên trên.

Nhẹ nhàng đặt ống vào lỗ mũi đã chọn. Nếu ống không “xoay góc” và đi vào vòm họng, có thể dùng ngón tay trong miệng chỉnh đường đi của ống. Đừng cố đẩy, sẽ gây tổn thương thành họng sau

Đừng cắt ống của bạn; hãy để nó lơ lửng để ngăn loét do tì đè gây ra bởi đầu nối  

ĐẶT ỐNG Ở TRẺ EM

Thanh quản ở trẻ em khác 1 số điểm so với người lớn

Những điều này có thể gây khó khăn khi đặt ống

MẸO

Chọn kích thước chính xác của ống.

Khi đặt xoay ống có thể giảm bớt khó khăn khi đặt ống qua dây thanh âm hoặc sụn nhẫn

Trong khi đặt ống qua mũi ở trẻ em, ống sẽ tiếp cận thanh quản từ phía sau. Thanh quản và khí quản đi xuống từ trước ra sau, do đó, có 1 góc tồn tại giữa ống và khí quản có thể gây tắc nghẽn bên dưới dây thanh âm 

Biện pháp khắc phục là, khi đã định vị được đường đi của ống,  thả lỏng áp lực bàn tay với đèn soi thanh quản, do đó thanh quản rơi ra khỏi tầm nhìn. Điều này làm thẳng góc và cho phép ống đi qua dễ dàng.

ĐẶT ỐNG NKQ KHÓ

MẸO

Khi khó đặt NKQ,  đặt hai ống mũi – thanh quản (nosophoryngeol airways) và gắn đầu nối với ống NKQ. Thông khí với thể tích khí lưu thông cao và tần số thở cao. Thông thường bệnh nhân sẽ dễ thở

Nếu một bệnh nhân phải thở máy và không đặt được NKQ, các bác sĩ TMH sẽ đặt ống NKQ với ống soi phế quản cứng

Trong tất cả các vấn đề liên quan đến gây mê đặc biệt với các vấn đề khó khăn của đường thở, có pion B (và pion C).

Hãy nói với phụ mê của bạn những gì bạn đang nghĩ

Tư thế đúng là tất cả.

Để đảm bảo điều kiện đặt nội khí quản tối ưu, chỉnh cho dái tai và mũi ức nằm trong mặt phẳng ngang, đặc biệt quan trọng ở những người béo phì hoặc cổ dài. Có thể bạn phải độn gối

Nếu bạn sử dụng bút styllet, hãy đặt nó đến vòng cuff và chỉ 1 chút của đầu ống. để cong quá sẽ che khuất tầm nhìn.

Với trường hợp đặt NKQ khó, đừng bao giờ làm gì mà không có đường lui 

Đừng làm gì tới khi bạn oxy hóa đầy đủ cho bệnh nhân. Đừng ngưng thở bệnh nhân cho đến khi bạn biết cho thở máy. Đừng để bác sĩ phẫu thuật bắt đầu cho đến khi bạn hoàn toàn hài lòng với đường thở của mình và không rút ống cho bệnh nhân đến khi bạn hoàn toàn thấy họ có giành lại quyền kiểm soát  

Đừng cố gắng rút ống cho bệnh nhân quá sớm.

Không ai chết vì giữ ống của họ lâu thêm vài phút

Khi đối diện với đặt nội khí quản khó Grode 3, uốn cong đầu của Bougie đến 90 °. Trượt nó dọc theo nắp thanh quản cho tới khi cảm nhận được nếp gấp của khí quản. Đường sắt ống ET trên đầu trang.

Đặt ống qua mũi tốt nhất là lúc khởi mê. Giúp giảm nguy cơ mất bão hòa.

Ở bệnh nhân có thanh quản ra trước hơn bình thường, đừng quá ngửa cổ trong khi đặt NKQ hoặc đặt gối dưới vai. Thay vào đó, uốn cong đầu, giải phóng các cơ ức móng và vai móng. Điều này sẽ cho phép thanh quản dịch chuyển về phía sau bằng cách nhấn lên sụn nhẫn.

Sử dụng mask thanh quản (lMA) sớm. Thay vì phải vật lộn với các công cụ thông thường, hãy dùng ngay LMA.

ĐẶT ỐNG SỢI QUANG

Nếu ống sợi quang không có sẵn, hãy dùng ống soi người lớn và đưa guide wire 0,97 mm X 150 cm qua kênh. Điều này sau đó có thể được sử dụng như một dây dẫn để luồn ống ET qua.

Để đặt ống sợi quang nhanh khi bn đang tỉnh (FOi), cho bệnh nhân ngồi lên góc 45 °. dùng fentanyl chỉ để an thần. Điều này giữ cho bệnh nhân vẫn còn đáp ứng. Bắt đầu bằng cách sử dụng xylocaine 10% xịt, dùng máy phun khí dung thành sau cổ họng và hầu họng với 4% lignocaine; 2-4 ml sẽ giúp phong bế tuyệt vời.

Đặt ống kích thước 6.0 COett, thở lưu lượng cao 02 vào cổng hút (điều này sẽ giúp oxy hóa và thổi các mảnh mô vụn ra khỏi đường thở), sau đó đưa ống qua đường thở. Khi thấy nắp thanh quản và dây thanh âm, tiêm 2 X 2 ml 4% lignocaine, khi đi qua dây thanh âm, cho propofol và sau đó đẩy ống qua

DÙNG LASER VI PHẪU VÙNG DÂYTHANH ÂM

Luôn khó khăn khi chia sẻ đường thở với bác sĩ phẫu thuật, đặc biệt nếu họ cần thực hiện các thủ thuật laser nguy hiểm tiềm tàng xung quanh thanh quản. Để chống lại nguy cơ cháy đường thở, nhiều loại ống không cháy đã được tạo ra. Tuy nhiên, những thứ này quá cồng kềnh và che khuất tầm nhìn của các bác sĩ phẫu thuật. Một số kỹ thuật đã được sử dụng để vượt qua những khó khăn này. Đây là một trong những cách

Khởi mê với propofol 2 mg / kg sau đó truyền 12 mg / kg / giờ.

pha 1 mg alfentanil lên đến 10 ml. Cho 70 mcg / kg liều khởi đầu

(khoảng nửa ampoule). Thông khí với 100% 02.

Lấy 5 ml lignocaine 2% loại sử dụng tiêm tĩnh mạch (i.v.)

Khi soi thanh quản, xịt vào nếp gấp biểu mô, dây thanh âm với lignocaine. Hãy chắc chắn rằng rất nhiều thuốc đi vào khí quản. Tôi gắn kim lấy thuốc màu xanh uốn cong 45 độ vào xilanh rồi xịt.

lignocaine tĩnh mạch có đặc điểm không gây ho.

Không sử dụng thuốc xịt lignocaine. Nó được pha trong 90% cồn và cực kỳ khó chịu.

Thông khí qua mask trong 30-60 giây nữa với 100% 02.

Cho phép bác sĩ phẫu thuật đặt ống soi thanh quản cứng. Thậm chí nếu

Bệnh nhân vẫn còn ngưng thở thì họ vẫn ở trạng thái bão hòa vì đã “dự trữ oxy – preoxygenation” đầy đủ

Tôi thấy rằng với lignocaine, kích thích đủ nhẹ để họ bắt đầu thở và không xuất hiện kháng cự

Một khi họ thở, chỉnh dần liều của alfentonil – do đó phải pha loãng đến 10 ml.

Nếu họ thở tốt, bệnh nhân sẽ thực sự duy trì bão hòa với không khí trong phòng cho phép bác sĩ phẫu thuật không bị gián đoạn, tầm nhìn không bị cản trở.

Đôi khi cần phải thêm một chút 02. Chia oxy và không khí phòng ra 40% oxy (3 lair+ 1 l 02) và để nó chảy vào miệng và ống soi cứng

Cần chú ý đừng để bn bị lạnh – sẽ kích thích gây ho

Sau mổ cần cho NSAID +/- opiod

THÔNG KHÍ 1 PHỔI

Nếu bạn sử dụng ống “không chuyên dụng” để đặt NKQ thông khí 1 phổi,

Bước sau đây giúp hướng trực tiếp bịt vào phế quản mong muốn:

Sử dụng lưỡi Magill thông thường để đặt nội khí quản. đẩy ống qua thanh quản xoay đầu cong của ống về góc 12 giờ. Với đèn soi thanh quản vẫn còn trong miệng, xoay ống qua vị trí 3 giờ nếu bạn muốn chẹn phổi phải,

9 giờ nếu muốn chẹn phổi trái. Nâng ống lên chút trước khi tháo đèn soi thanh quản  

Phương pháp “truyền thống” di chuyển đầu theo hướng ngược lại thường gây khó khăn cho tôi, việc thay đổi như trên giúp tôi chẹn chính xác mỗi lần đặt ống

HÃY TỐT VỚI BỆNH NHÂN CỦA BẠN

CỐ ĐỊNH ỐNG Ở BỆNH NHÂN CÓ RÂU HOẶC MẤT RĂNG

1 số bs đề nghị cạo râu vì nó làm việc cố định ống trở nên khó khăn

Có thể dùng mask có đục lỗ ở giữa để cố định ống trong trường hợp này

MASK THANH QUẢN LMA

Giúp ngăn can thiệp phẫu thuật vào đường thở nhưng nổi tiếng là khó đặt

Dùng ống NKQ trẻ em size 6.0, dùng với các LMA bọc thép. Bôi trơn nhẹ ống NKQ sau đó nhét vào trong lòng của LMA. Nó hoạt động như một thanh nẹp và làm cho việc đặt LMA đơn giản hơn, nhớ tháo ống NKQ trước khi nối máy thở

Magill’ forcep được dùng để đặt LMA bọc thép. Nắm chặt nó tại ngã ba của cuff và ống. Nhẹ nhàng đưa LMA theo bờ của lưỡi và đẩy nó xuống họng.

Hoán đổi vị trí với phụ mê của bạn và đặt LMA từ  phía trước bệnh nhân. LMA sẽ vào dễ dàng hơn nhiều so với đứng từ phía sau đầu

CÁC DẤU HIỆU CẦN LƯU Ý CHU PHẪU

BLOCK NHÁNH TRÁI – LBBB

Cẩn thận với bệnh nhân với block nhánh trái (LBBB) trên điện tâm đồ trước phẫu thuật (ECG). Bởi vì nó che lấp hình dạng thực sự của đoạn ST, chúng ta có xu hướng quên rằng nó đại diện cho vấn đề bệnh tim thiếu máu cục bộ nghiêm trọng

Sự xuất hiện dạng LBBB trong quá trình gây mê gợi ý đang có giảm tưới máu cơ tim.

Xử trí kịp thời như đối với đau thắt ngực. Tôi sẽ tăng huyết áp (HA) và giảm nhịp xuống. Metoraminol thường dùng nếu không chống chỉ định  

TOAN CHUYỂN HÓA

Bất cứ bệnh nhân nào thiếu hụt kiềm 4 hoặc hơn 4 lần bình thường đều cần phải hội chẩn ngay

TĂNG TẦN SỐ THỞ

Nhịp thở thường là dấu hiệu sớm nhất và nhạy nhất của tình trạng sinh lý xấu đi và bệnh nhân không ổn.

Cẩn thận với bất cứ ai dường như đang quá sức với việc thở của mình. Cần tìm nguyên nhân, khắc phục nó trước khi tiến hành gây mê

TÔI ƯU HÓA MỤC TIÊU

Tất cả chúng ta đều mong muốn bệnh nhân của mình trong tình trạng tốt nhất có thể trước khi phẫu thuật. tối ưu hóa mục tiêu giúp cải thiện tiên lượng

Tất cả bệnh nhân “nguy cơ cao” có gây mê toàn thân nên được hồi sức tới khi bão hòa oxy máu trộn tĩnh mach (SV02) vượt quá 70%.

Khi nghi ngờ

Câu trả  lời là “thể tích”

Mẹo

Bệnh nhân chạy thận thường có giảm thể tích


bất kỳ bệnh nhân nào có  uống thuốc làm sạch đường ruột (chuẩn bị mổ) thường không chỉ có nguy cơ giảm thể tích mà còn hạ kali máu. Cần kiểm tra khí máu trước khi khởi mê hoặc rất nhanh ngay sau đó

BÉO PHÌ


bệnh nhân béo phì rất thường gặp

nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình phẫu thuật như tăng áp lực trong ổ bụng là 1 trong số đó. Khi cân nhắc kỹ thuật hãy chú ý tới điều này

Khi nằm ngửa, nếu đỉnh bụng của bệnh nhân cao hơn chóp mũi của họ, thì mask thanh quản (LMA) là một lựa chọn tồi

Để ngăn cánh tay rơi khỏi bàn mổ ở bệnh nhân béo phì, hãy yêu cầu họ chắp hai bàn tay lại với nhau, vì một số lý do, họ sẽ giữ chặt tư thế này sau khởi mê!

Bệnh nhân quá to so với bàn mổ? Buộc hai bàn lại với nhau!

Luôn có một ống soi thanh quản ngắn trên tay.

Quá khó để lấy ven? Nên nhờ sự giúp đỡ của Doppler

Mặc dù tê vùng là nhiệm vụ khó khăn, nhưng chúng thường dễ dàng hơn so với tưởng tượng ban đầu và đáng để thử nếu muốn tránh gây mê toàn thân (GA).

ĐẶT CATHETER TĨNH MẠCH TRUNG TÂM

Việc sử dụng CVC để dùng thuốc vận mạch hoặc kích thích ven, nuôi dưỡng, lọc máu, đo CVP…

Nhằm tránh biến chứng nghiêm trọng liên quan tới đặt CVC, NICE khuyến nghị dùng siêu âm để hỗ trợ đặt CVC 


Kiểm tra vùng cổ sờ tìm tĩnh mạch. Chọc kim vào điểm giữa của mạch 

Nếu bệnh nhân tỉnh,  hướng dẫn họ thực hiện nghiệm pháp Valsalva. Nó làm tăng đáng kể diện tích mặt cắt ngang của tĩnh mạch 

Nếu bệnh nhân được đặt nội khí quản, giữ thì thở vào sẽ có tác dụng tương tự. do đó ta sẽ tăng PEEP hoặc áp lực Plateau

Hãy cẩn thận

Điều này có thể gây bất lợi ở một số bệnh nhân, đặc biệt là những người có cung lượng tim thấp và / hoặc giảm thể tích máu

Sau khi mở bộ đặt CVC, hãy gắn 1 van 3 chạc vào cuối kim nòng lớn của bạn. nối 1 xilanh vào 1 cổng, 1 ống chuyển đổi áp lực vô trùng được đặt ở đầu kia và xả hết không khí ra ngoài.

Tìm những cái giống tĩnh mạch như bình thường. xoay khóa để mở đầu dò áp suất và quan sát. Nếu nó là tĩnh mạch, bạn sẽ thấy dạng sóng CVP. Nếu nó là động mạch, dạng sóng điển hình (typical waveform) sẽ quan sát được. sau xác nhận vị trí, mở khóa vào kim và đặt guide wire qua. Rút xilanh, khóa vòi và kim khỏi wire.

Với phương pháp này, bạn có thể tránh được sự lúng túng và nguy hiểm khi chọc vào một động mạch lớn.

Khi thực hiện một thủ thuật xâm lấn, chẳng hạn như chọc CVC, để mặt vát của mũi kim lên trên với các số trên xilanh

. Bằng cách này, bạn có thể chú ý hướng của kim dù nó chọc sâu đến cỡ nào

ấn IJV bằng ngón tay và nhanh chóng thả ra. Quan sát cẩn thận vùng cổ cho thấy tĩnh mạch sẽ đầy trở lại. điều này cho phép hình dung khá tốt

về vị trí của tĩnh mạch.

Khi cố gắng đặt CVC động mạch dưới đòn ở bệnh nhân mất dịch, đảm bảo mặt vát của kim đối diện với bàn chân để tận dụng sự hồi lưu tối đa

Theo dõi sát khi đặt đường truyền. nếu xuất hiện PVC cho thấy đã đúng vị trí và bạn lùi lại 1 chút

Đột nhiên mất bão hòa hoặc mất sóng carbon dioxide (CO2) cho thấy có thể đang bị tràn khí màng phổi áp lực

Khi sờ cổ để xác định vị trí động mạch cảnh trước khi chọc. hãy thả tay giải phóng áp lực trước khi bạn chọc. tĩnh mạch sẽ bị xẹp bởi ngón tay của bạn nếu bạn tiếp tục đẩy. ngược lại nâng hàm bằng tay có thể làm tĩnh mạch nở rộng hơn

ĐẶT ĐƯỜNG TRUYỀN ĐỘNG MẠCH

Lập đường truyền động mạch có nhiều ưu điểm. Nó giúp bạn theo dõi huyết động, lấy máu nhanh để làm khí máu, điện giải, cho phép hình dung dạng sóng để đánh giá huyết động của bệnh nhân.

Tuy nhiên, đặt đường truyền động mạch thường khó khăn và gây khó chịu cho bệnh nhân.

Mẹo

Đừng quá ngửa cổ tay, nó sẽ làm nghẽn các mạch

Chọc vào mạch với góc nông, làm tăng cơ hội đi vào nó. Nếu chọc vào xương, lùi lại và giảm bớt góc tiếp cận. nếu bạn đeo găng tay, mạch thường nằm ở giữa vị trí bạn sờ thấy mạch đập

Cho 1 ít ephedrine giúp tăng khả năng chọc trúng mạch. Tiêm chút thuốc tê tại chỗ giúp giảm co thắt mạch, sau đó xoa xoa vị trí tiêm cho hết sưng giúp phục hồi giải phẫu sau tiêm

DOPPLER GIÚP XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ ĐỘNG MẠCH KHÔNG THỂ SỜ THẤY

Béo phì, tay chân phù, HA tụt hoặc biến dạng giải phẫu gây khó khăn cho việc chọc vào động mạch.  

Đặt đầu dò Dopller tại vị trí mạch được chọn, xác định tín hiệu tốt nhất của dòng xung và chọc catheter vào khu vực này. Mở âm lượng, khi kim đến gần động mạch, tín hiệu có thể được sử dụng để dẫn đường cho bạn. Cần thêm chút luyện tập nhưng sử dụng Doppler khá đáng tin cậy

Biến chứng nghiêm trọng nhất của chọc đông mạch là gây tổn thương phá hủy động mạch. Huyết khối mạch tận có thể gây tổn thương thiếu máu cục bộ cho toàn bộ chi cần phải cắt cụt chi.

Trước đây, test Allen dùng để đánh giá mức độ lưu thông tuần hoàn phụ của động mạch trụ trước khi chọc vào động mạch quay. Cả hai mạch sẽ bị chặn bởi áp lực trực tiếp khi bệnh nhân nắm chặt tay để gây phồng da. Khi giải phóng áp lực mạch trụ, màu sắc sẽ nhanh chóng trở lại lòng bàn tay trong vòng 5-10 giây. Thời gian dài hơn ngụ ý lưu thông tuần hoàn mạch trụ kém.

Tiếc là, test Allen không đáng tin cậy và không khả thi ở bệnh nhân gây mê hoặc  ICU  

Máy đo sp02 không chỉ tuyệt vời trong việc đo độ bão hòa oxy (02) của máu động mạch. Nó cũng rất nhạy trong việc phát hiện mạch. Nó có thể được sử dụng để đánh giá chất lượng của tuần hoàn phụ mạch trụ.

Mẹo

Đặt đầu dò trên một ngón tay như bình thường. ấn lên động mạch trụ và quay bằng cách ấn lên cổ tay. Thả từng vị trí đè lên động mạch (thả trụ trước). khi siêu âm cho thấy tuần hoàn trụ hồi phục tức là nguồn cấp máu bên đó đầy đủ 

CATHETER ĐỘNG MẠCH PHỔI (PA)

Thiếu lợi ích cho thấy kèm có sẵn các phương tiện ít xâm lấn làm catheter PA trở nên ít phổ biên

Catheter PA có những nhược điểm và biến chứng như tổn thương mạch máu, tim, loạn nhịp tim, nhiễm trùng/viêm nội tâm mạc, nhồi máu phổi là các biến chứng đã được ghi nhận

Về mặt ưu điểm:

Đo bão hòa máu trộn tĩnh mạch, nhĩ phải, áp lực thất… đo trực tiếp áp suất PA, áp lực mao mạch phổi bit và cung lượng tim, tính kháng trở mạch hệ thống và phổi ở bệnh nhân

Giống như với nhiều thủ tục xâm lấn, đây là thủ thuật khó

Chúng tôi có một vài lời khuyên.

Mẹo

Nếu gặp phải cản trở khi đưa catheter PA qua nòng, kéo nòng lại 1cm hoặc hơn  

Nếu catheter mất độ cứng sau vài lần thử không thành công, hãy thử rửa nó bằng nước muối sinh lý lạnh

Đầu xa của catheter PA thường được để ở vị trí 11 hoặc 12 giờ trước khi đưa vào nòng. Điều này có thể tạo điều kiện cho catheter vào vị trí thích hợp. Sau khi đặt, phương pháp để duy trì và xác định vị trí đầu ống là cách cổng gần khoảng 30cm

Giữ catheter, cuộn tròn một phần, trong một tay.

Căng nhẹ catheter, giữ nó ở vị trí 12h với nòng. Nhìn xuống trục của catheter, vị trí của cổng gần, vị trí số của cổng dùng làm dấu tham chiếu 

Catheter được đặt bắt đầu ở vị trí 12h. ở mức 30cm so với cổng gần. catheter có thể để lại vị trí ban đầu. vị trí 12h nếu nó bị xoay trong khi đặt. điều này giúp đặt nó ở vị trí chính xác 

Để dễ dàng đặt catheter  PA, tôi sẽ chọn phương pháp chọc vào mạch dưới đòn bên trái

Các đường cong vào tĩnh mạch cánh tay đầu và tĩnh mạch chủ trên trơn tru. Từ tĩnh mạch dưới đòn bên phải, góc sẽ sắc và khó hơn

Tương tự, đường từ tĩnh mạch cảnh trong phải sẽ thẳng hơn so với bên trái

DẤU HIỆU CẢNH BÁO SỚM CỦA THIẾU MÁU CỤC BỘ CƠ TIM

Các cơ nhú kiểm soát van hai lá và đóng van ba lá nằm trong tâm thất, do đó nằm xa nhất so với nguồn cấp máu động mạch vành. Nên dễ bị thiếu máu cục bộ

Khi đặt catheter PA, sẽ gây hở van 2 lá (sóng V khổng lồ trên dạng sóng PA) hoặc van ba lá (nhìn thấy trên dạng sóng CVP) có thể là dấu hiệu sớm của giảm tưới máu cơ tim.

Hãy cẩn thận

Nếu bạn xem dạng sóng CVP trong khi tải dịch, khi tim đầy máu, thường sẽ thấy trào ngược van 3 lá, điều này không nhất thiết phải do thiếu máu cục bộ nhưng tâm nhĩ quá căng sẽ gây rò qua van

Khi đó bạn nên truyền tĩnh mạch chậm lại tại thời điểm này 

SIÊU ÂM TIM QUA THỰC QUẢN TEE

Siêu âm tim qua thực quản (TEE) dưới gây mê toàn thân thuận lợi hơn nếu để VT thấp và tăng tần số thở. Điều này làm giảm sự di chuyển của các cấu trúc trong quá trình siêu âm

Làm ấm Lignocaine (Lidocaine) trong túi của bạn trong khi

Làm thủ thuật.

Khi chọc cannula lớn qua tĩnh mạch, dùng thuốc tê tại chỗ. Để tiêm tê tại chỗ, dùng kim 25G với mặt vát chúc xuống dưới (lộn ngược kim) sẽ làm bệnh nhân đỡ đau hơn nhiều

KHÓ CHỌC TÊ TỦY SỐNG

Khi chọc tủy sống, nên nhớ bệnh nhân là nguồn cung cấp thông tin tốt  nhất.

Nếu khó xác định các mốc, hãy hỏi thử bệnh nhân nơi anh ta cảm thấy kim “Trái, phải hoặc ở giữa.”

Đôi khi, nơi kim đang nằm và nơi bạn nghĩ tới nó lại không giống nhau chút nào. Bệnh nhân thường đúng.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn