» Bài 31- SỬ DỤNG CÁC THUỐC BẢO VỆ NIÊM MẠC DẠ DÀY Bài 31- SỬ DỤNG CÁC THUỐC BẢO VỆ NIÊM MẠC DẠ DÀY – Y học online

Hồi sức cấp cứu những điều cần tránh

Bài 31- SỬ DỤNG CÁC THUỐC BẢO VỆ NIÊM MẠC DẠ DÀY



Bệnh nhân điều trị tại ICU hay gặp biến chứng viêm dạ dày. Tỷ lệ chảy máu dạ dày ở bệnh nhân nặng từ 2% đến 15%. Ở những bệnh nhân có nguy cơ cao loét niêm mạc dạ dày liên quan đến stress: thở máy hơn 48 giờ; rối loạn đông máu; nội soi hoặc X quang chẩn đoán loét dạ dày tá tràng hoặc viêm dạ dày; bỏng (lớn hơn 15% tổng diện tích bề mặt cơ thể); chấn thương sọ não và dùng liều lượng lớn glucocorticoid (ví dụ,> 50mg hydrocortisone / ngày). 

Thuốc dự phòng bao gồm các thuốc kháng acid, sucralfate, chất đối kháng thụ thể histamine-2 (H2-blockers) và thuốc ức chế bơm proton (PPI). Cook và cộng sự, trong một thử nghiệm đa trung tâm ngẫu nhiên có kiểm soát, chứng minh rằng H2-blockers (ranitidine) với sucralfate giảm chảy máu đáng kể về mặt lâm sàng. Cho đến nay chưa có nghiên cứu đánh giá khả năng dùng PPI tĩnh mạch để giảm chảy máu có ý nghĩa lâm sàng với bệnh nhân nặng có nguy cơ cao; Tuy nhiên, PPI được dùng để nâng và duy trì độ pH dạ dày cao. Khi quyết định giữa H2-blockers và PPI, tác dụng phụ và chi phí cần được xem xét. Nếu bệnh nhân đòi hỏi phải tiêm tĩnh mạch, H2-blockers là hiệu quả nhất. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có thể uống, PPI là lựa chọn tốt để duy trì pH dạ dày trong một thời gian liên tục. 

Tác dụng phụ của cả hai thuốc này: H2-blockers gây viêm thận kẽ, lú lẫn, ức chế hệ thống enzym cytochrome oxidase (chỉ có thuốc cimetidine), và cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới 50 ml / phút. PPI nói chung là an toàn nhưng tác dụng phụ hiếm gặp như tiêu chảy, buồn nôn và ngứa. 


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net