» Bài 10 -CẦN NHỚ CÓ 2 LOẠI NEO- Bài 10 -CẦN NHỚ CÓ 2 LOẠI NEO- – Y học online

Hồi sức cấp cứu những điều cần tránh

Bài 10 -CẦN NHỚ CÓ 2 LOẠI NEO-



Đôi khi viết tắt tên thuốc có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ, thuật ngữ neo thường được sử dụng trong phòng cấp cứu và hồi sức cấp cứu (ICU) để chỉ Neo-Synephrine; Tuy nhiên, nó cũng có thể dùng để chỉ neostigmine, một loại thuốc thường được sử dụng trong phòng mổ và ICU. Để tránh nhầm lẫn này và làm giảm nguy cơ của lỗi dùng thuốc, không nên dùng thuật ngữ Neo-Synephrine. 

Neo-Synephrine 

Neo-Synephrine là tên thương mại của phenylephrine. Nó chủ vận thụ thể alpha và có hiệu ứng co cả động- tĩnh mạch. Vì thụ thể này cũng phát hiện có trong cơ tim, nó cũng có thể có tác dụng co cơ tim. Ngoài ra, phenylephrine gây tăng tiền gánh (preload) do tác động lên tĩnh mạch; nó làm tăng hậugánh tốt. Ở người bình thường, nó không ảnh hưởng đến cung lượng tim. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có thiếu máu cơ tim cục bộ, nó có thể làm giảm cung lượng tim. Các tác dụng khác của phenylephrine bao gồm đảo chiều từ phải sang trái luồng shunt ở bệnh nhân tứ chứng Fallot và ngăn nhịp nhanh trên thất (SVTs) vì nó có thể gây kích thích phản xạ phế vị để đáp ứng với tình trạng tăng huyết áp. Trong trường hợp cuối cùng này, phenylephrine dùng rất tốt vì nó xử lý cả các rối loạn nhịp tim và hạ huyết áp. 

Phenylephrine tiêm tĩnh mạch (IV) hoặc tiêm bolus; liều bolus là 1-10 mcg / kg, hoặc liều bolus 50-100 mcg ở người lớn. Khi dùng IV, nó thường được pha 10-15 mg trong 250 ml NaCl 0,9% với liều 0,15-0,75 mcg / kg / phút. Để sử dụng trong các bệnh nhân nhi khoa với tứ chứng Fallot, IV liều bolus là 5-50 mcg / kg. 

Neostigmine 

Neostigmine (trên thị trường dưới tên thương mại Prostigmin) là một chất ức chế acetylcholinesterase. Nó được sử dụng trên lâm sàng trong điều trị bệnh nhược cơ, bệnh tăng nhãn áp, tình trạng giảm nhu động của đường tiêu hóa và đường tiết niệu. Trong cấp cứu và ICU, nó thường được sử dụng để ức chế tác dụng thuốc chẹn thần kinh cơ không phân cực. 

Mặc dù đối kháng thuốc chẹn thần kinh cơ tại các thụ thể nicotinic, nó có tác dụng muscarinic khá tốt. Tác dụng phụ của nó: nhịp tim chậm; tăng tiết nước bọt; tăng nhu động ruột; và co thắt phế quản. Để chống lại những tác động bất lợi, neostigmine thường được kết hợp với một thuốc kháng cholinergic, atropine hoặc glycopyrolate. 

Liều neostigmine tĩnh mạch để đảo ngược tác dụng giãn cơ của thuốc chẹn thần kinh cơ còn tùy thuốc. Ví dụ, 40-50 mcg / kg neostigmine là đủ để chặn 90% thuốc pancuronium hoặc d-tubocurarine, trong khi 20-30 mcg / kg là đủ cho atracurium, vecuronium và Rocuronium, và 5 mcg / kg cho mivacurium.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn