» Bài 5 Suy hô hấp cấp: NIV – Thông khí không xâm nhập và đặt ống Bài 5 Suy hô hấp cấp: NIV – Thông khí không xâm nhập và đặt ống – Y học online

Hồi sức cấp cứu dựa trên bằng chứng

Bài 5 Suy hô hấp cấp: NIV – Thông khí không xâm nhập và đặt ống



Torben K. Becker and John M. Litell

Tình huống

Bệnh nhân nữ 65 tuổi tiền sử bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ và đột quỵ não xuất hiện khó thở, thở nhanh (36l/p), ho, sốt và bão hòa oxy còn 85% dù thở qua mask không thở lại 10 l/p. Khi bắt đầu hồi sức, cô được thở BPAP. 30 phút sau, bão hòa oxy lên 94% với FiO2 0.7, tần số thở 28 dù cô vẫn sốt. Xét nghiệm bạch cầu 19,500. XQ ngực hình bên dưới Fig. 5.1.

Câu hỏi: Bước điều trị tiếp theo với bệnh nhân này?

Trả lời: tùy thuộc vào mục tiêu hồi sức, bệnh nhân này có khả năng phải đặt ống và thông khí xâm nhập

T.K. Becker (*)

Department of Critical Care Medicine, University of Pittsburgh Medical Center, Pittsburgh, PA, USA e-mail: tbeckermd@gmail.com

J.M. Litell

Department of Emergency Medicine, Division of Emergency Critical Care, University of Michigan Health System, Ann Arbor, MI, USA

© Springer International Publishing Switzerland 2017

Hyzy (ed.), Evidence-Based Critical Care, DOI 10.1007/978-3-319-43341-7_5

Mặc dù thông khí không xâm nhập hiệu quả và an toàn ở bệnh nhân COPD và CHF nặng, nhưng với các bệnh lý khác còn đang tranh cãi. Sử dụng NIV ở bệnh nhân viêm phổi có suy hô hấp cấp tiến triển làm tăng nguy cơ diễn biến nặng và tỷ lệ tử vong. Cả NIV (Fig. 5.2) và thở oxy liều cao qua gọng mũi (Fig. 5.3) có thể cải thiện hô hấp và trao đổi khí, nhưng khó cải thiện tình trạng bệnh nhân. Cần đánh giá và theo dõi tại giường. Với trường hợp này, bệnh nhân được đặt ống và dùng kháng sinh phổ rộng trước khi nhập ICU. Sau 4 ngày, cô rút ống và chuyển về phòng thường, sau đó ra viện cho về dùng kháng sinh uống

Nguyên tắc điều trị

Định nghĩa

Suy hô hấp cấp biểu hiện dưới dạng thiếu oxy và/hoặc giảm thông khí, có thể dẫn tới thiếu máu cục bộ và rối loạn kiềm toan. Phụ thuộc vào triệu chứng bệnh nhân và loại suy hô hấp, thường bệnh nhân sẽ cần hỗ trợ hô hấp tùy mức độ.

Fig. 5. 1 Chest x-ray


Từ bổ sung oxy qua ngạnh mũi tới oxy liều cao, thông khí không xâm nhập và thông khí xâm nhập. Liệu pháp oxy liều cao có thể qua mask hay cannula mũi lưu lượng cao (Hình 5.3). Thuật ngữ thông khí không xâm nhập (NIV) bao gồm tất cả các dạng thông khí cơ học hỗ trợ mà không xâm lấn đường thở. NIV dùng để chỉ thông khí áp lực âm (không còn được sử dụng trong thực hành lâm sàng) và các chế độ thông khí áp lực dương, bao gồm thông khí áp lực dương liên tục (CPAP) và thông khí áp lực dương 2 mức độ (BPAP). Cả hai đều được cung cấp thông qua mask, lắp trên mũi, mũi và miệng, mặt, hoặc toàn bộ đầu. CPAP cung cấp tỷ lệ khí/oxy khác nhau với áp lực không đổi trong cả 2 thì hít vào và thở ra, cải thiện sự giãn nở của phế nang và cung cấp oxy cho mao mạch phế nang. BPAP cung cấp cả chế độ áp lực dương thi thở ra (EPEP) sau đó mức độ cao hơn trong quá trình hít vào (IPAP). Tùy thuộc vào chế độ cài đặt mà 2 chế độ này sẽ kích hoạt bởi bệnh nhân và/hoặc tần số đặt trước do bác sĩ

Fig. 5. 2 Non-invasive ventilation by full face mask

Fig. 5. 3 Hi-flow nasal cannula

Theo lý thuyết BPAP lợi hơn CPAP do hỗ trợ áp lực thì hít vào, làm tăng thể tích khí lưu thông và đỡ gánh nặng cho hô hấp [1]. Bởi vì chúng hạn chế áp suất trong lồng ngực, nên cả 2 loại NIV này đều ảnh hưởng tới huyết động, giảm cả tiền tải và hậu tải. Phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân và bệnh tình, mà lựa chọn biện pháp điều trị thích hợp, chú ý nó có ảnh hưởng tới huyết động

Chỉ định, chống chỉ định và chế độ cài đặt

Các triệu chứng được chấp nhận cho việc chỉ định áp dụng NIV trong trường hợp cấp tính gồm suy hô hấp do suy tim mất bù (ADHF) và đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Việc sử dụng NIV sớm làm cải thiện tỷ lệ sống còn ở các bệnh nhân này [2, 3]. Các dấu hiệu mạn tính có chỉ định áp dụng là tắc nghẽn đường thở khi ngủ, bệnh hạn chế di động thành ngực, loạn dưỡng cơ và béo phì gây giảm thông khí. Để dùng NIV an toàn và hiệu quả, tình trạng bệnh nhân phải hợp tác và chịu được đeo mask, chú ý với bệnh nhân có tắc nghẽn đường thở hoặc nôn. Cụ thể, không áp dụng với bệnh nhân không đáp ứng hoặc ngưng thở, trong đó đặt ống và thông khí xâm nhập là biện pháp duy nhất hỗ trợ thông khí.

Bệnh nhân ADHF tiến triển suy hô hấp 1 phần do có phù phổi [1]. CPAP hay dùng cho những bệnh nhân này, nó có thể giảm nhanh tiền tải và hậu tải, tăng sử dụng phế nang, cải thiện oxy hóa và hạn chế tối thiểu thiếu máu cục bộ mạch vành [4]. CPAP thường cài đặt ban đầu 5 cm H2O và điều chỉnh theo

Khả năng dung nạp của bệnh nhân và đáp ứng lâm sàng. Nếu họ chịu được đeo mask, bệnh nhân thường thấy có cải thiện hô hấp. Mục tiêu là cải thiện lâm sàng, giảm rales phổi, tĩnh mạch cổ nổi

BPAP đặc biệt có lợi với bệnh nhân hạn chế trao đổi khí thứ phát do suy yếu cơ hô hấp, hay gặp ở bệnh nhân COPD cấp. Ngoài việc tăng sử dụng phế nang, việc hỗ trợ áp lực thì hít vào mang lại lợi ích về mặt cơ học, giảm nhu cầu hoạt động hô hấp. ngoài ra IPAP cũng giúp thông khí hiệu quả hơn và tăng đào thải CO2. cài đặt BPAP thông thường ban đầu là EPAP 5 cm H2O và IPAP 10 cm H2O. Để đáp ứng với tình trạng nhiễm toan hô hấp dai dẳng, IPAP có thể tăng lên (thường là tăng 2 cm H2O), giúp tăng sử dụng phế nang và oxy hóa. bác sĩ lâm sàng nên lưu ý rằng áp lực cần thiết để vượt qua trương lực của cơ vòng đoạn dưới thực quản khoảng 20-22 cm H2O. Giữ IPAP dưới mức này có thể làm giảm nguy cơ nôn và hít sặc

Tiên lượng thông khí không xâm nhập thất bại

Điều quan trọng là phải nhận ra bệnh nhân không cải thiện khi dùng NIV. Có rất ít bằng chứng hướng dẫn về điều này. Nghiên cứu năm 2003 ở bệnh nhân khó thở nặng do suy tim mất bù, Giacomini và cộng sự đưa ra phác đồ để chuyển bệnh nhân từ cấp cứu sang điều trị nội trú cho bệnh nhân ổn định khi dùng NIV. Sau 90 phút cho dùng NIV, bệnh nhân cảm thấy tốt hơn về mặt chủ quan và chịu được ít nhất 15 phút thở oxy qua mask. Nếu không “đáp ứng” nên cho đặt NKQ hoặc chuyển ICU [5]. Nếu bệnh nhân vẫn thở nhanh, toan máu hoặc thiếu oxy sau dùng NIV (60-90 phút), và những bệnh nhân có tụt áp, không cải thiên, nên đặt NKQ và thông khí xâm nhập vì vai trò của NIV trong điều trị cấp tính vẫn chưa rõ ràng  .

Không có bằng chứng rõ ràng về mức độ an toàn của NIV ở các phân nhóm bệnh nhân khác. Các yếu tố cần xem xét bao gồm bệnh kèm theo và chức năng sinh lý, cũng như nguyên nhân gây suy hô hấp của bệnh nhân.

Bằng chứng

Áp dụng với bệnh nhân viêm phổi

Việc sử dụng NIV trong suy hô hấp cấp đã được nghiên cứu chỉ định cho các trường hợp ngoài suy tim và COPD [6-10]. Viêm phổi không được xem là dấu hiệu thích hợp cho việc sử dụng NIV đối với bệnh nhân suy hô hấp cấp. Mặc dù NIV là can thiệp ít xâm lấn hơn đối với chứng suy hô hấp, tỷ lệ thất bại NIV ở bệnh nhân viêm phổi đã được báo cáo lên đến 50% [7]. Rất khó để dự đoán bệnh nhân sẽ cải thiện hay xấu đi [7], và trong số những người dùng NIV thất bại, làm tăng tỷ lệ phải đặt NKQ và tăng tỷ lệ tử vong [9, 10]. Một số giả thuyết như nhu  cầu chuyển hóa tăng lên ở những bệnh nhân bị viêm phổi, không có khả năng bảo vệ đường thở và quá trình điều trị viêm phổi thường kéo dài so với các chỉ định khác dùng NIV. Có thể có ngoại lệ khi NIV kém hiệu quả ở bệnh nhân Viêm phổi và COPD có kèm suy hô hấp tăng CO2. Đây có thể do chồng lấp chẩn đoán giữa COPD và nhiễm khuẩn thực sự [8]. Ngoại lệ khác còn có những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính với bệnh máu ác tính, hoặc ghép tạng gần đây nghi ngờ có viêm phổi, những bệnh nhân này viêm phổi do virus nhiều hơn vì suy giảm miễn dịch [11–14]. Nhìn chung, những dữ liệu này vẫn còn chưa nhiều. Nếu NIV áp dụng cho những bệnh nhân này, bác sĩ lâm sàng nên theo dõi tại giường và cần đặt NKQ nếu không có cải thiện lâm sàng đáng kể

Sử dụng ở bệnh nhân hen nặng

NIV cũng đã được sử dụng ở những bệnh nhân hen cấp, tuy nhiên chỉ có những bằng chứng hạn chế để giúp hướng dẫn bác sĩ lâm sàng. Các nghiên cứu sẵn có không chứng minh được cải thiện tỷ lệ tử vong hoặc tỉ lệ đặt nội khí quản, nhưng cho thấy tỷ lệ nhập viện của bệnh nhân giảm, thời gian nằm viện, mức độ nặng nhẹ của triệu chứng, và các dấu gián tiếp về mức độ nghiêm trọng, như test chức năng phổi hoặc khí máu động mạch [15 -18]. Tuy nhiên, không có các nghiên cứu chất lượng nào sử dụng NIV ở những bệnh nhân có tình trạng hen nặng, và ảnh hưởng của nó đến tỷ lệ phải đặt NKQ và tử vong ở những bệnh nhân này [19]. Đối với bệnh nhân hen nặng, nên dùng NIV cẩn thận, theo dõi thường xuyên

Dùng ở bệnh nhân ARDS

Các bằng chứng còn hạn chế về việc NIV có thể làm giảm tỷ lệ đặt ống ở bệnh nhân ARDS nhẹ-vừa, tuy nhiên, tỉ lệ tử vong có vẻ không thay đổi, và phải theo dõi lâm sàng rất chặt chẽ [20– 22]. NIV không thích hợp là biện pháp đầu tay trong ARDS, để có thể kiểm soát thể tích khí lưu thông và áp lực đường thở ở hội chứng này [23]

Sử dụng NIV ở bệnh nhân có rối loạn ý thức

Như đã đề cập, một trong những chống chỉ định phổ biến nhất đối với việc sử dụng NIV là dùng cho bệnh nhân rối loạn ý thức do lo ngại gây giảm phản xạ bảo vệ đường thở và không thể tống chất xuất tiết ở phổi hay miệng. Nôn khi dùng mask áp lực dương có khả năng gây tử vong ở những bệnh nhân này. Đối với những bệnh nhân say rượu có suy hô hấp, NIV gần như không bao giờ là lựa chọn an toàn, vì  các độc tính không lường trước và nguy cơ nôn. Mặc dù NIV là biện pháp xử trí tuyệt với với bệnh nhân COPD cấp tính, nhưng những bệnh nhân này thường có tình trạng rối loạn tinh thần do tăng CO2. Các bằng chứng có chất lượng từ thấp đến trung bình cho thấy bệnh nhân có bệnh não do tăng CO2 và phải theo dõi [24, 25]. Phải dừng ngay nếu không có cải thiện tình trạng tinh thần đáng kể trong thời gian ngắn [24].

Dùng NIV để tối ưu oxy hóa trước đặt ống

Ở những bệnh nhân đã đánh giá kỹ, NIV có thể áp dụng để tối ưu hóa trước đặt ống NKQ do suy hô hấp. Bằng cách cung cấp oxy nồng độ cao khuếch tán, loại bỏ khí nitrogen vào phế nang và chống xẹp phổi, cách tiếp cận này có khả năng cải thiện oxy hóa trước khi bắt đầu và kéo dài thời gian ngưng thở an toàn trước khi giảm bão hòa oxy [26]. Bệnh nhân cần đáp ứng các tiêu chuẩn như trong chỉ định dùng NIV

Sử dụng NIV để tạo thuận lợi cho cai thở máy

Ngoài việc sử dụng nó ở những bệnh nhân suy hô hấp cấp, NIV cũng đã được sử dụng trong việc giúp bệnh nhân cai thở máy. Một số bằng chứng cho thấy việc rút nội khí quản ra và dùng NIV như 1 chiến lược an toàn đối với một số bệnh nhân đã giải quyết được tình trạng suy hô hấp cấp, ví dụ như bệnh nhân COPD vào đợt cấp của tăng CO2 mạn [27]. Cách tiếp cận này có thể làm giảm tỷ lệ mắc một số rủi ro liên quan đến việc đặt nội khí quản kéo dài và thông khí xâm nhập, như viêm phổi liên quan đến thở máy và tỷ lệ phải mở khí quản. Việc sử dụng NIV trong trường hợp này có thể làm giảm tổng thời gian thông khí, thời gian nằm viện và nằm tại ICU mà không có nguy cơ phải đặt ống lại [1, 27-29]

Chỉ định tạm thời

NIV cũng đưpực dùng để cố níu kéo sự sống trong thời gian ngắn và tối ưu hóa sự thoải mái ở những bệnh nhân sắp tử vong. Trong khi tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân này vẫn cao, những người sống sót được không thấy có giảm sút chất lượng cuộc sống so với ngưỡng bình thường sau khi nhập viện và không có biến chứng rõ ràng nào [30, 31]. Quyết định sử dụng NIV khi có sự hợp tác chặt chẽ giữa bệnh nhân cũng gia đình

Thở qua cannula mũi oxy liều cao thay thế cho NIV

Thở oxy liều cao qua cannula mũi (HFNC) là biện pháp thay thế tương đối mới giúp cung cấp oxy có lợi cho những bệnh nhân suy hô hấp cấp do thiếu oxy mà không tăng CO2 

Trái ngược với thở oxy qua ngạnh mũi bình thường, nên thở oxy khoảng 6 L / phút, HFNC có thể cung cấp lưu lượng oxy trên 40 L / phút. Đặc tính vật lý của thiết bị, cũng như việc bổ sung thiết bị làm ẩm và ấm, giúp bệnh nhân thoải mái và hỗ trợ oxy tốt đến đáng kinh ngạc [33]. Bởi vì nó không phải đeo mask chặt,  HFNC giúp bệnh nhân thoải mái hơn NIV. Công nghệ này tương đối mới và các bằng chứng hỗ trợ việc sử dụng nó vẫn đang tiến hành. Nói chung, HFNC dường như là một phương pháp thay thế an toàn và hiệu quả cho các bệnh nhân nguy cơ suy hô hấp cấp tiến triển mà không tăng CO2. Thiết bị này không bảo vệ được đường thở. Một nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên và mở rộng năm 2015 so sánh HFNC, NIV và liệu pháp oxy chuẩn trong một nhóm nghiên cứu tương đối rộng các bệnh nhân thiếu oxy máu [34]. Khoảng 60-70% bệnh nhân có viêm phổi. Tỷ lệ đặt nội khí quản không khác biệt giữa các nhóm, nhưng tỷ lệ tử vong 90 ngày ở nhóm HFNC thấp hơn đáng kể. Những lý do giải thích chưa rõ ràng. Ngoài ra, NIV không liên quan tỷ lệ tử vong hay lợi ích khác hơn liệu pháp oxy, bao gồm cả những bệnh nhân HFNC, ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch có suy hô hấp giảm oxy máu. Trong trường hợp không có bằng chứng bổ sung, việc sử dụng HFNC có thể áp dụng tốt nhất cho từng bệnh nhân. Liên quan với việc trì hoãn đặt NKQ ở bệnh nhân viêm phổi của HFNC tương tự như NIV

References

1.     Nava S, Hill N. Non-invasive ventilation in acute respiratory failure. Lancet. 2009;374(9685):250–9. Epub 2009/07/21.

2.     Cabrini L, Landoni G, Oriani A, Plumari VP, Nobile L, Greco M, et al. Noninvasive ventilation and survival in acute care settings: a comprehensive systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Crit Care Med. 2015. Epub 2015/01/08.

3.     Lindenauer PK, Stefan MS, Shieh MS, Pekow PS, Rothberg MB, Hill NS. Hospital patterns of mechanical ventilation for patients with exacerba- tions of COPD. Ann Am Thorac Soc. 2015;12(3):402–9.

4.     Weitz G, Struck J, Zonak A, Balnus S, Perras B, Dodt

C. Prehospital noninvasive pressure support ventila- tion for acute  cardiogenic  pulmonary  edema.  Eur  J Emerg Med. 2007;14(5):276–9. Epub 2007/09/08.

5.     Giacomini M, Iapichino G, Cigada M, Minuto A, Facchini R, Noto A, et al. Short-term noninvasive pressure support ventilation prevents ICU admittance in patients with acute cardiogenic pulmonary edema. Chest. 2003;123(6):2057–61. Epub 2003/06/11.

6.     Carrillo A, Gonzalez-Diaz G, Ferrer M, Martinez- Quintana ME, Lopez-Martinez A, Llamas N, et al. Non- invasive ventilation in community-acquired pneumonia and severe acute respiratory failure. Intensive Care Med. 2012;38(3):458–66. Epub 2012/02/10.

7.     Carron M, Freo U, Zorzi M, Ori C. Predictors of fail- ure of noninvasive ventilation in patients with severe community-acquired pneumonia. J Crit Care. 2010;25(3):540.e9–14. Epub 2010/05/04.

8.     Confalonieri M, Potena A, Carbone G, Porta RD, Tolley EA, Umberto MG. Acute respiratory failure in patients with severe community-acquired pneumonia. A prospective randomized evaluation of noninvasive ventilation. Am J Respir Crit Care Med. 1999;160(5 Pt 1):1585–91. Epub 1999/11/11.

9.     Wood KA, Lewis L, Von Harz B, Kollef MH. The use of noninvasive positive pressure ventilation in the emergency department: results of a randomized clinical trial. Chest. 1998;113(5):1339–46. Epub 1998/05/22.

10.   Ferrer M, Cosentini R, Nava S. The use of non- invasive ventilation during acute respiratory failure due to pneumonia. Eur J Intern Med. 2012;23(5):420– 8. Epub 2012/06/26.

11.   Antonelli M, Conti G, Bufi M, Costa MG, Lappa A, Rocco M, et al. Noninvasive ventilation for treatment of acute respiratory failure in patients undergoing solid organ transplantation: a randomized trial. JAMA. 2000;283(2):235–41. Epub 2000/01/14.

12.   Hilbert G, Gruson D, Vargas F, Valentino R, Gbikpi- Benissan G, Dupon M, et al. Noninvasive ventilation in immunosuppressed patients with pulmonary infiltrates, fever, and acute respiratory failure. N Engl J Med. 2001;344(7):481–7. Epub 2001/02/15.

13.   Hilbert G, Gruson D, Vargas F, Valentino R, Chene G, Boiron JM, et al. Noninvasive continuous positive air- way pressure in neutropenic patients with acute respi- ratory failure requiring intensive care unit admission. Crit Care Med. 2000;28(9):3185–90. Epub 2000/09/29.

14.   Gristina GR, Antonelli M, Conti G, Ciarlone A, Rogante S, Rossi C, et al. Noninvasive versus invasive ventilation for acute respiratory failure in patients with hematologic malignancies: a 5-year multicenter obser- vational survey. Crit Care Med. 2011;39(10):2232–9. Epub 2011/06/15.

15.   Brandao DC, Lima VM, Filho VG, Silva TS, Campos TF, Dean E, et al. Reversal of bronchial obstruction with bi-level positive airway pressure

and  nebulization  in  patients  with  acute  asthma.    J Asthma. 2009;46(4):356–61. Epub 2009/06/02.

16.   Gupta D, Nath A, Agarwal R, Behera D. A prospec- tive randomized controlled trial on the efficacy of noninvasive ventilation in severe acute asthma. Respir Care. 2010;55(5):536–43. Epub 2010/04/28.

17.   Lim WJ, Mohammed Akram R, Carson KV, Mysore S, Labiszewski NA, Wedzicha JA, et al. Non-invasive positive pressure ventilation for treatment of respira- tory failure due to severe acute exacerbations of asthma. Cochrane Database Syst Rev. 2012;12, CD004360. Epub 2012/12/14.

18.   Soroksky A, Stav D, Shpirer I. A pilot prospective, randomized, placebo-controlled trial of bilevel posi- tive airway pressure in acute asthmatic attack. Chest. 2003;123(4):1018–25. Epub 2003/04/10.

19.   Landry A, Foran M, Koyfman A. Does noninvasive positive-pressure ventilation improve outcomes in severe asthma exacerbations? Ann Emerg Med. 2013;62(6):594–6. Epub 2013/06/19.

20.   Pichot C, Petitjeans F, Ghignone M, Quintin L. Swift recovery of severe acute hypoxemic respiratory fail- ure under non-invasive ventilation. Anaesthesiol ntens Ther. 2014. Epub 2014/10/24.

21.   Zhan Q, Sun B, Liang L, Yan X, Zhang L, Yang  J,  et al. Early use of noninvasive positive pressure venti- lation for acute lung injury: a multicenter randomized controlled trial. Crit Care Med. 2012;40(2):455–60. Epub 2011/10/25.

22.   Luo J, Wang MY, Zhu H, Liang BM, Liu D, Peng XY, et al. Can non-invasive positive pressure ventilation prevent endotracheal intubation in acute lung injury/ acute respiratory distress syndrome? A meta-analysis. Respirology. 2014;19(8):1149–57. Epub 2014/09/12.

23.   Rana S, Jenad H, Gay PC, Buck CF, Hubmayr RD, Gajic O. Failure of non-invasive ventilation in patients with acute lung injury: observational cohort study. Crit Care. 2006;10(3):R79. Epub 2006/05/16.

24.   Diaz GG, Alcaraz AC, Talavera JC, Perez PJ, Rodriguez AE, Cordoba FG, et al. Noninvasive positive-pressure ventilation to treat hypercapnic coma secondary to respiratory failure. Chest. 2005;127(3):952–60. Epub 2005/03/15.

25.   Scala R. Hypercapnic encephalopathy syndrome: a new frontier for non-invasive ventilation? Respir Med. 2011;105(8):1109–17. Epub 2011/03/01.

26.   Weingart SD, Trueger NS, Wong N, Scofi J, Singh N, Rudolph SS. Delayed sequence intubation: a prospec- tive observational study. Ann Emerg Med. 2015;65(4):349–55. Epub 2014/12/03.

27.   Burns  KE,  Meade  MO,  Premji   A,   Adhikari   NK. Noninvasive positive-pressure ventilation as a weaning strategy for intubated adults with respiratory failure. Cochrane Database Syst Rev. 2013;12, CD004127. Epub 2013/12/11.

28.   Ornico SR, Lobo SM, Sanches HS, Deberaldini M, Tofoli LT, Vidal AM, et al. Noninvasive ventilation immediately after extubation improves weaning out- come after acute respiratory failure: a randomized con- trolled trial. Crit Care. 2013;17(2):R39. Epub 2013/03/19.

29.   Vaschetto R, Turucz E, Dellapiazza F, Guido S, Colombo D, Cammarota G, et al. Noninvasive venti- lation after early extubation in patients recovering from hypoxemic acute respiratory failure: a single- centre feasibility study. Intensive Care Med. 2012;38(10):1599–606. Epub 2012/07/25.

30.   Azoulay E, Kouatchet A, Jaber S, Lambert J, Meziani F, Schmidt M, et al. Noninvasive mechanical ventila- tion in patients having declined tracheal intubation. Intensive Care Med. 2013;39(2):292–301. Epub 2012/11/28.

31.   Nava S, Ferrer M, Esquinas A, Scala R, Groff P, Cosentini R, et al. Palliative use of non-invasive ven- tilation in end-of-life patients with solid tumours: a randomised feasibility trial. Lancet Oncol. 2013;14(3):219–27. Epub 2013/02/15.

32.   Azoulay E, Demoule A, Jaber S, Kouatchet A, Meert AP, Papazian L, et al. Palliative noninvasive ventila- tion in patients with acute respiratory failure. Intensive Care Med. 2011;37(8):1250–7. Epub 2011/06/10.

33.   Ward JJ. High-flow oxygen administration by nasal cannula for adult and perinatal patients. Respir Care. 2013;58(1):98–122.

34.   Frat J-P, Thille AW, Mercat A, et al. High-flow oxy- gen through nasal cannula in acute hypoxemic respi- ratory failure. N Engl J Med. 2015;372(23):2185–96.

35.     Lemiale V, Mokart D, Resche-Rigon M, et al. Effect of noninvasive ventilation vs oxygen therapy on mor- tality among immunocompromised patients with acute respiratory failure: a randomized clinical trial. JAMA. 2015;314:1711–9.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net