» TRIỆU CHỨNG HỆ VẬN ĐỘNG TRIỆU CHỨNG HỆ VẬN ĐỘNG – Y học online

Giáo trình triệu chứng nội khoa

TRIỆU CHỨNG HỆ VẬN ĐỘNG



Hệ vận động bao gồm cơ, xương, khớp: cách sắp xếp này hợp lý về phương diện chức năng, bởi vì cả ba bộ phận này đều phục vụ cho quá trình vận động cơ thể. Cơ, xương, khớp liên quan mật thiết với nhau và liên quan đến các cơ quan trong cơ thể như nội tiết, chuyển hóa, tim mạch… Các bệnh về bộ máy vận động chiếm một vị trí quan trọng trong nội khoa, ngoại khoa. Khám, chẩn đoán, điều trị đúng các bệnh hệ vận động có ý nghĩa hết sức quan trọng.

I. TRIỆU CHỨNG CƠ

1. Triệu chứng cơ năng:

a) Yếu cơ: người bệnh tự cảm thấy vận động yếu, dấu hiệu yếu cơ sẽ thể hiện tuỳ theo vị trí tổn thương: ở chi dưới, làm cho đi lại kém; ở chi trên làm giảm khả năng mang, vác… nhưng thường là toàn thân, gây giảm mọi động tác.

b) Đau cơ: những bệnh của cơ ít gây đau, trừ bệnh viêm cơ. Đau cơ hay gặp trong các bệnh thần kinh hay toàn thân.

c) Chuột rút: là hiện tượng co cứng và đau một cơ hay một nhóm cơ. Là triệu chứng không phải ở cơ, như thiếu Ca, Na, làm việc quá sức và kéo dài.

2. Triệu chứng thực thể.

a) Teo cơ.

Teo cơ là triệu chứng hay gặp trong các bệnh cơ và một số bệnh khác như liệt thần kinh vận động ngoại biên, bất động lâu…

+ Khi teo cơ, ta thấy những phần cơ đó xẹp lõm xuống.

+ Teo cơ trong các bệnh cơ là teo cả hai bên và đối xứng, không có hiện tượng run các thớ cơ, có thể ở toàn thân nhưng cũng khi chỉ ở một vùng cơ thể.

+ Teo cơ do tổn thương thần kinh (liệt thần kinh ngoại biên, bệnh bại liệt) thường có hiện tượng run các thớ cơ.

b) Giảm cơ lực

+ Trong phần lớn các bệnh cơ, có teo cơ, thường có giảm cơ lực. Nói chung, hiện tượng giảm cơ lực là đồng đều ở mỗi lần làm động tác nhưng có một thể đặc biệt là giảm dần qua mỗi lần làm động tác (Addison).

+ Thăm khám cơ lực, ta có thể quan sát các động tác của người bệnh khi đi lại, mang, vác, nằm, ngồi, làm nghiệm pháp chống đối hoặc sử dụng các dụng cụ đo cơ lực. Ta sẽ khám từng cơ, từng vùng, từng nhóm cơ, từng đoạn.

Sau đó chia làm nhiều mức độ.

– Cơ lực mất hoàn toàn.

– Nặng: khi có thể cử động nhẹ nhưng không làm được động tác.

– Vừa: làm được động tác nhưng yếu.

– Nhẹ: làm động tác nhưng không kéo dài được.

+ Hiện tượng giảm cơ lực có thể toàn thân, có thể từng vùng: nếu ở từng vùng, gây nên những thay đổi, những rối loạn về vận động, biểu hiện nét mặt.

c) Mật độ của cơ:

+ Bình thường cơ chắc và chun.

+ Cơ có thể mềm nhẽo do các thớ cơ lỏng, hoặc rắn, cứng, do xơ hoặc viêm (giả phì đại).

d) Khám phản xạ cơ

+ Bình thường khi dùng búa phản xạ gõ vào thân cơ ta thấy cơ co nhẹ, đôi khi gây một động tác nhỏ, đó là phản xạ cơ hay phản xạ tự cơ.

+ Trong các bệnh cơ có teo cơ, phản xạ ở vùng teo giảm và mất nhưng phản xạ gân xương vẫn còn.

+ Ngược lại trong teo cơ tổn thương thần kinh, phản xạ cơ tồn tại khá lâu trong khi phản xạ gân xương thay đổi rất sớm.

3. Cận lâm sàng

a) Sinh hóa

+ Creatinin máu và niệu tăng (bình thường Creatinin niệu 100 mg/24 giờ) khi hoạt động cơ bắp nhiều hoặc khi có teo cơ nhanh, do Creatinin là một sản phẩm được tạo ra khi thoái hoá cơ.

+ Myoglobin niệu (+) gặp trong một số bệnh cơ và chấn thương giập nát nhiều cơ.

+ Các men như Andolase, Transaminase (GOT, GPT), Creatinkinase… tăng trong các bệnh cơ có teo cơ, không tăng khi teo cơ do tổn thương thần kinh.

b) Thăm dò điện cơ

+ Những thăm dò về điện trong bệnh cơ có một giá trị chẩn đoán tốt, chia làm hai loại thăm dò phản ứng điện, điện cơ đồ.

+ Biểu hiện bệnh lý:

– Teo cơ do bệnh cơ: tần số rất tăng, biên độ giảm, song có nhiều pha. Ngay cả khi nghỉ ngơi cũng xuất hiện sóng từng đợt.

– Viêm cơ: sóng đa dạng, tăng tần số.

– Nhược cơ: khi hoạt động, nhiều lần thấy sóng có biện độ và tần số giảm dần rồi cuối cùng không còn nữa.

II. TRIỆU CHỨNG XƯƠNG

1. Triệu chứng cơ năng

a) Đau xương

Đau xương: đau xương có thễ gặp trong bệnh xương nhưng cũng gặp trong các bệnh khác. Tính chất đau ở đây là:

+ Đau sâu.

+ Đau lan dọc theo chiều dài của xương.

+ Đau tăng lên khi hoạt động, khi ấn hoặc bóp vào.

b) Gãy xương tự nhiên:

Trong một số bệnh, đồ bền chắc của xương giảm nhiều (bệnh mềm xương, rỗ xương..), xương có thễ gãy tự nhiên qua một va chạm, chấn thương nhỏ và có khi chỉ vận động mạnh hơn bình thường cũng làm gãy.

2. Triệu chứng thực thể.

a) Thay đổi về hình dáng và kích thước của xương.

– Xương có thễ thay đổi hình dạng như cong, gập…

– Thay đổi kích thước như dày mỏng, dài, ngắn hơn bình thường…

– Khi khám nên đối chiếu so sánh hai bên, so sánh từng đoạn và so sánh với người bình thường.

b) Phát hiện những khối u xương

Có thể là một khối u đơn độc hay nhiều khối u ở nhiều nơi, u xương có đặc điểm:

– Cố định trên thân xương, không di động

– Mật độ thường rắn, đôi khi có thể mền hoặc chắc

– Một số khối u ác tính phát triển nhanh thấy da căng bóng, giãn mạch dưới da, sờ vào thấy nóng.

c) Phát hiện các vùng xương bị hủy

Khó phát hiện trên lâm sàng trừ trường hợp xương bị phá hủy rộng và nông có thể thấy vùng xương bị khuyết, hoặc thấy vùng xương biến dạng có lỗ rò chảy mủ hoặc bã đậu.

3. Cận lâm sàng

a) X quang

Trong viêm xương tủy xương: hình ảnh cốt mạc phản ứng dày lên kết hợp với hình ảnh thưa xương, giai đoạn muộn có ổ khuyết xương bên trong có hình ảnh mảnh xương chết.

b) Xét nghiệm sinh hóa

Xét nghiệm thăm dò chuyển hoá Ca và P

+ Calci máu

– Bình thường Ca trong máu 2,5mmol/l(100 mg/l

– Tăng trong cường cận giáp, u xương thứ phát.

+ Phospho máu (

– Bình thường: 0,95 – 1,3mmol/l(30 – 40mg/l)

– Tăng: suy cận giáp trạng, suy thận.

– Giảm: cường cận giáp trạng, mềm xương, còi xương…

+ Men phosphataza kiềm máu

– Bình thường 8 – 10 đơn vị King Armstrong/l.

– Tăng trong bệnh còi xương, mềm xương, bệnh Paget…

+ Men Phosphatase axit: b

– Bình thường 1 – 5 đơn vị Plummel.

– Tăng trong ung thư tiền liệt tuyến di căn vào xương.

III. TRIỆU CHỨNG KHỚP

1. Triệu chứng cơ năng

a) Đau: là dấu hiệu hay thường gặp nhất. Vị trí, tính chất và mức độ thay đổi theo từng loại bệnh; hướng lan, có thể dọc theo các xương dài. Về phân loại, ta chia ra.

+ Đau có tính chất cơ học:

– Đau tăng khi hoạt động, giảm khi nghỉ ngơi.

– Nguyên nhân: thoái khớp, đau sau chấn thương.

+ Đau có tính chất viêm:

– Đau liên tục ngay cả lúc nghỉ ngơi, tăng nhìêu về đêm và sáng sớm.

– Nguyên nhân: hầu hết các loại viêm khớp đau kiểu này.

b) Cứng khớp

+ Là cảm giác vận động khớp bị hạn chế sau một thời gian không cử động khớp đó. Phải vận động khớp một thời gian nhất định mới thấy bình thường.

+ Cứng khớp hay gặp trong chấn thương phải bất động chi thể lâu hoặc viêm khớp như: viêm cột sống dính khớp, viêm đa khớp dạng thấp, thoái hoá khớp…

c) Hạn chế cử động khớp:

Là biên độ hoạt động của khớp bị hạn chế so với biên độ hoạt động bình thường của khớp đó.

2. Triệu chứng thực thể

a) Sưng khớp: chia làm hai loại sưng khớp do viêm và sưng khớp không viêm.

+ Sưng khớp cho viêm: thường có dấu hiệu nóng, đỏ, đau, phù nề. Trong một số trường hợp có thể gặp tràn dịch khớp (hay gặp ở khớp gối).

+ Sưng khớp không viêm: thường do thay đổi ở đầu xương của khớp (mọc thêm) hoặc loạn sản xương, sụn, ở cơ quanh khớp, có khi do mô xơ và mỡ phát triển. Khám thấy khớp to không đều, không cân đối, mật độ chắc hoặc cứng không nóng, không đỏ, ít đau.

b) Dị dạng khớp: Dị dạng khớp do nhiều cơ chế khác nhau gây nên.

+ Những nguyên nhân bẩm sinh hay mắc phải, làm thay đổi đầu xương và diện khớp, dẫn đến các thay đổi về trục khớp.

+ Những thay đổi về vỏ xơ, dây chằng, gân và các cơ quanh khớp (liệt cơ, xơ, sẹo) có thể kéo lệch khớp, gây nên sai khớp hoặc bán sai khớp.

+ Khớp quá lỏng lẻo (giãn các dây chằng) cũng có thể có những thay đổi dạng khớp.

c) Giới hạn động tác.

+ Là phần khám quan trọng, vì để đánh giá chức năng chính của khớp. Cần thăm khám lần lượt từng khớp, mọi động tác( gấp, đuôi dạng, khép, quay.) so sánh hai bên.

+ Khi khám động tác của một khớp, bao giờ ta cũng để phần trên hay phần gốc của khớp cố định, còn phần kia di động.

+ Khi khám động tác, nên dùng những dụng cụ đặc biệt để đo (dùng compa, giác độ kế).

d) Khớp lỏng lẻo: bệnh về khớp ít khi gây lỏng khớp. Thường gặp khi tổn thương các dây chằng quanh khớp hoặc bao khớp. Hiện tượng lỏng khớp hay được phát hiện ở khớp gối và cổ chân.

e) Đau khi khám: nói chung trong các bệnh khớp, đau khi tăng vận động nên người bệnh có xu hướng bất động. Ta có thể gây đau khi thăm khám, làm những động tác thụ động, hoặc tìm những điểm đau nhất định (diện khớp, túi thanh dịch, bao hoạt dịch, dây chằng, đầu xương.).

f) Tiếng lắc rắc khi khám: không có giá trị đặc hiệu, vì ở một số người bình thường cũng có thể có. Nếu kết hợp với đau thì nghĩ đến tổn thương sụn khớp.

g) Teo cơ: trong một số bệnh khớp, nhất là bệnh viêm khớp, thường phối hợp với teo cơ quanh khớp, có teo nhanh và nhiều, các bệnh về khớp không có viêm cũng gây teo cơ nhưng rất chậm và ít. Teo cơ có thể phối hợp với co cứng cơ phản ứng.

k) Một số biểu hiện khác:

– Các hạt ở quanh khớp: hạt Meynel.

– Các biểu hiện ngoài da: ban đỏ, vẩy nến, xơ cứng bì.

– Mắt: viêm kết mạc, viêm mống mắt.

– Tim mạch: tổn thương van tim.

– Thần kinh: múa vờn, hội chứng chèn ép.

3. Cận lâm sàng

a) X quang

+ Phát hiện thay đổi về xương: thưa xương, khuyết xương, gai xương…

+ Thay đổi của khe khớp và diện khớp: hẹp khe khớp, rộng khe khớp (tràn dịch khớp), dính khớp, diện khớp không đều (lao khớp, viêm mủ khớp…).

+ Những thay đổi của phần mềm quanh khớp: vôi hoá gân, cơ, dây chằng…

b) Chọc dịch khớp

Một số bệnh khớp có tràn dịch trong ở khớp. Chọc dịch khớp làm xét nghiệm giúp tìm nguyên nhân nhiều bệnh khớp.

– Dịch mủ (nhiều bạch cầu đa nhân): viêm khớp do vi khuẩn.

– Dịch trong: viêm đa khớp, thoái khớp…

– Dịch có nhiều tinh thể Urat trong bệnh Goute

c) Sinh hóa

+ Xét nghiệm đánh giá hiện tượng viêm: công thức máu, máu lắng, Fibrin…

+ Những xét nghiệm đặc hiệu:

– ASLO (Anti Streptolysin O) tăng trong thấp khớp cấp.

– Xét nghiệm phát hiện yếu tố thấp: Waaler Rose và Gama – Latex (+) trong 80% viêm đa khớp tiến triển quá một năm).

– Axit uric trong máu tăng trong bệnh Goute (>70mg/lít).

4. Đặc điểm viêm khớp của một số bệnh lí.

a) Viêm khớp dạng thấp:

+ Hay viêm các khớp bàn – ngón tay, khớp cổ tay, cổ chân.

+ Viêm khớp có tính đối xứng hai bên.

+ Khớp viêm th­ường đau nhức tăng về đêm gần sáng.

+ Có cứng khớp buổi sáng kéo dài từ một đến vài giờ.

+ Các khớp viêm dần dần bị biến dạng và dính khớp

b) Thấp khớp cấp:

+ Viêm các khớp vừa và lớn: khớp gối, khớp cổ chân, khớp khuỷu…

+ Viêm khớp không có tính đối xứng

+ Khớp viêm có tính chất di chuyển nhanh.

+ Không để lại di chứng teo cơ, cứng khớp, biến dạng khớp.

IV . TRIỆU CHỨNG CHẤN THƯƠNG TỨ CHI

1. Hỏi bệnh

+ Tên tuổi giới, thời gian bị chấn thương.

+ Nguyên nhân chấn thương: phương tiện giao thông, tai nạn sinh hoạt hay tai nạn lao động … Qua nguyên nhân có thể xác định được độ mạnh của lực chấn thương; môi trường xảy ra tai nạn và tác nhân gây tai nạn sạch hay bẩn.

+ Cơ chế chấn thương: xem xét hướng tác động của lực chấn thương, tư thế khi bị chấn thương có thể nhận định được vị trí tổn thương.

+ Tình trạng toàn thân sau chấn thương: tỉnh hay bất tỉnh.

+ Tình trạng tại chỗ: bất lực vận động, đau, chảy máu, biến dạng.

+ Sơ cứu, cấp cứu bước đầu.

+ Tình trạng hiện tại.

2. Triệu chứng thực thể

a) Toàn thân

+ Ý thức: tỉnh hay bất tỉnh, la hét, kích thích, vật vã, hôn mê

+ Da niêm mạc nhợt, mạch, huyết áp.

+ Tìm các tổn thương phối hợp: ngực, bụng, sọ não.

b) Tại chỗ

* Nhìn

+ Dáng điệu, tư thế của bệnh nhân.

– Thấy bệnh nhân đi với dáng điệu đầu nghiêng về 1 bên, tay lành đỡ tay đau đây là dấu hiệu của chấn thương chi trên(gãy xương, bong gân, sai khớp).

– Thấy bệnh nhân nằm: chi dưới xoay ngoài (gãy xương chi dưới), đùi khép và xoay trong hoặc xoay ngoài (sai khớp háng)

+ Nhìn tìm các biến dạng chi:

– Biến dạng chi thể: lệch trục, dài – ngắn, quai lồi, cong vẹo.

– Gãy xương hở: đầu xương gẫy hoặc máu lẫn váng tủy, mảnh xương vụn.

– Vết thương cần xác định: vị trí, kích thước, dị vật, máu tụ…..

– Sai khớp: chi thể ở tư thế bắt buộc, chỏm xương ở vị trí bất thường.

* Sờ

+ Mục đích: tìm triệu chứng gãy xương, sai khớp, bong gân, tổn thương dây chằng.

+ Kết quả:

– Triệu chứng gãy xương: điểm đau chói cố định; sự mất liên tục của thân xương; dấu hiệu lạo xạo xương; cử động bất thư­ờng.

– Triệu chứng sai khớp: hõm khớp rỗng, chỏm xương ở vị trí bất thường; dấu hiệu bật lò xo.

– Bong gân, tổn thương dây chằng: ấn đau tại điểm dây chằng, đau dọc theo dây chằng. Một số nghiệm pháp khám khớp có thể (+).

* Gõ:

+ Mục đích: tìm vị trí gãy xương.

+ Kết quả: nếu gãy xương gõ có điểm đau chói cố định.

* Đo chi

+ Mục đích:

– Xác định chiều dài tuyệt đối, tương đối của xương.

– Xác định trục của chi.

– Xác định chu vi của chi.

+ Nguyên tắc:

– Phải xác định chính xác các mốc xương trước khi đo.

– Khi đo, chi thể hai bên phải cùng tư thế.

– Đo hai bên để so sánh.

+ Các mốc xương

– Chi trên: khe khớp ức đòn, khe khớp cùng đòn, mỏm cùng vai, mỏm quạ, mấu động lớn, mỏm trên lồi cầu, mỏm trên ròng rọc, mỏm khuỷu, đài quay, mỏm trâm quay và mỏm trâm trụ.

– Chi dưới: gai chậu trước trên, mấu chuyển lớn, lồi cầu trong xương đùi, lồi cầu ngoài xương đùi, lồi củ trước xương chày, lồi củ zecdi, chỏm xương mác, mắt cá trong, mắt cá ngoài.

+ Đo chiều dài xương, trục chi và chu vi:

– Đo chiều dài tuyệt đối của xương: là đo độ dài giữa hai mốc ở hai đầu xương của một xương.

– Đo chiều dài tương đối của xương: là đo độ dài hai mốc trên hai xương khác nhau, đi qua một khớp. Một mốc lấy ở một đầu xương định đo, mốc kia ở xương tiếp khớp với đầu xương còn lại.

– Trục thẳng chi trên: đặt cánh tay dạng 900, bàn tay ngửa; trục thẳng là đường thẳng nối từ mỏm quạ đến giữa đốt thứ 2 ngón 3 bàn tay; bình thường đường này đi qua điểm giữa nếp khuỷu.

– Trục nghiêng chi trên: đặt cánh tay duỗi và áp sát vào thân mình, gan bàn tay hướng ra phía trước thì trục nghiêng là đường thẳng nối giữa mỏm cùng vai và bờ ngoài ngón trỏ. Bình thường đường này đi qua mỏm trên lồi cầu xương cánh tay. 

– Trục thẳng chi dưới: là đường thẳng nối gai chậu trước trên với khe ngón 1 và 2; bình thường đường này đi qua bờ ngoài xương bánh chè.

– Trục nghiêng chi dưới: là đường thẳng nối mấu chuyển lớn với mắt cỏ ngoài; bình thường đường này đi qua chỏm xương mác.

– Đo chu vi:  xác định một mốc thống nhất cho cả hai chi, vũng thước qua mốc đó xác định để đo, đo đối xứng hai bên để so sánh.

+ Nhận định:

– Khi gãy xương: trục của chi lệch; cả chiều dài tương đối và tuyệt đối của xương đều thay đổi (thường ngắn hơn bên lành).

– Khi sai khớp: trục của chi lệch; chiều dài tương đối thay đổi (ngắn hơn bên lành), chiều dài tuyệt đối thì không thay đổi.

– Chi vi: Khi gãy xương, sai khớp chi thường bị sưng nề ngay sau chấn thương và thường bị teo ở giai đoạn biến chứng, di chứng.

* Khám chấn thương khớp gối

+ Các tổn thương trong chấn thương khớp gối: Tổn thương diện khớp, sụn chêm, vỡ xương bánh chè, sai khớp có thể gây ra: tràn máu – tràn dịch khớp gối, đứt dây chằng khớp gối.

+ Dấu hiệu bập bềnh xương bánh chè.

– Mục đích: khám tràn dịch khớp gối.

– Nhận định: nếu tràn dịch khớp gối, dấu hiệu dương tính.

+ Dấu hiệu há khớp gối.

– Mục đích: chẩn đoán tổn thương dây chằng hoặc gãy một bên lồi cầu hoặc một bên mâm chày.

– Nhận định: nếu dương tính là có tổn thương dây chằng bên trong, dây chằng bên ngoài khớp gối hoặc gãy một bên lồi cầu, một bên mâm chày.

+ Dấu hiệu ngăn kéo.

– Mục đích: chẩn đoán tổn thương dây chằng chéo trước hoặc dây chằng chéo sau.

– Nhận định: nếu dương tính là có tổn thương dây chằng chéo trước hoặc dây chằng chéo sau.

* Triệu chứng kèm theo

+ Tổn thương mạch máu

– Nhìn: thấy máu chảy thành tia hoặc thành dòng. Nếu chảy máu vào trong thấy sắc da thay đổi, có khối mềm trên đường đi mạch máu và đập theo nhịp tim.

– Sờ: chi lạnh, mạch ngoại vi đập yếu hơn bên lành hoặc mất.

+ Tổn thương thần kinh: dây quay, dây trụ, dây giữa ở trên hay; dây chày trước, dây chày sau ở chi dưới.

+ Một số trường hợp thường có tổn thương kèm theo là:

– Gãy 1/3 giữa thân xương cánh tay: dễ tổn thương thần kinh quay.

– Gãy hai xương cẳng chân hay có hội chứng chèn ép khoang do tụ máu trong cân nội cơ của cơ dép: đau căng tức cẳng chân, da tím tái (sớm) hay trắng bệch (muộn), sờ chi căng cứng, lạnh, mất mạch ngọn chi, giảm hoặc mất cảm giác…

– Vỡ xương chậu: dễ gây tụ máu sau phúc mạc, có thể gây vỡ bàng quang đứt niệu đạo.

3. X.quang

+ Khi gãy xương, sai khớp chụp X.quang chẩn đoán xác định.

+ X.quang hai tư thế thẳng và nghiêng xác định: vị trí, tính chất, mức độ di lệch.

KHÁM CHẤN THƯƠNG TỨ CHI

I. CHUẨN BỊ

1. Phòng khám

– Đủ rộng, đủ ánh sáng, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.

– Có bàn, ghế cho thầy thuốc làm việc, có giường cho người bệnh nằm.

2. Thầy thuốc

– Tác phong gọn gàng, mặc áo, đội mũ công tác.

– Thái độ ân cần, niềm nở, đúng mực, tạo niềm tin cho người bệnh.

3. Dụng cụ

– Th­ước dây.

– Bút phớt.

– Ống nghe.

– Huyết áp kế.

– Nhiệt kế y học.

– Đồng hồ có kim giây.

– Kim tù đầu.

– Búa phản xạ.

4. Người bệnh

– Giải thích để người bệnh yên tâm, phối hợp với thầy thuốc trong quá trình khám. Bộc lộ quần, áo đủ rộng để khám.

– Nếu khám là người khác giới trong phòng có người thứ ba.

II. KHÁM BỆNH

1. Khám toàn thân

a) Mục đích:

+ Phát hiện sốc chấn thương.

+ Phát hiện tổn thương phối hợp.

b) Cách khám:

+ Khám da, niêm mạc: quan sát da niêm mạc, sờ ngọn chi.

+ Đo nhiệt độ, đo huyết áp, đếm nhịp thở, đếm mạch.

+ Khám tổn thương phối hợp: quan sát, sờ nắn, kết hợp hỏi bệnh nhân.

c) Nhận định:

+ Trường hợp sốc chấn thương sẽ biểu hiện: da xanh, niêm mạc nhợt nhạt, vẻ mặt lo âu hốt hoảng, vã mồ hôi, chân tay lạnh, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt.

+ Tổn thương phối hợp: sẽ biểu hiện triệu chứng tại cơ quan tổn thương.

2. Khám tại chỗ chi trên

a) Nhìn

* Mục đích:

+ Nhìn tư thế, dáng điệu người bệnh để định hướng vùng tổn thương.

+ Nhìn tại chỗ chấn thương để phát hiện các dấu hiệu của gãy xương hoặc sai khớp, vết thương phần mềm.

* Cách nhìn: Nhìn thẳng, nghiêng; nhìn theo trình tự từ trên xuống; nhìn cả hai bên chi thể để so sánh.

* Nhận định:

+ Tư thế, dáng điệu: chấn thương chi trên người bệnh thường có tư thế đầu nghiêng về bên chấn thương, vai bên tổn thương thấp hơn vai lành, tay lành đỡ tay đau.

+ Tại chỗ:

– Gãy xương: có thể thấy sưng nề, bầm tím, biến dạng chi thể (lệch trục, dài – ngắn, quai lồi, cong vẹo), nhìn thấy đầu xương gãy.

+ Nếu có vết thương cần mô tả: vị trí, kích thước, dị vật, máu tụ…..

+ Sai khớp: chi thể ở tư thế bắt buộc, biến dạng khớp…

b) Sờ nắn

* Mục đích: Tìm triệu chứng chẩn đoán gãy xương.

* Cách sờ:

+ Tìm điểm đau chói cố định: một tay thầy thuốc cố định đầu trung tâm, tay còn lại dùng đầu mút ngón I sờ từ đầu ngoại vi hướng đến đầu trung tâm, sờ miết nhẹ theo kiểu sâu đo dọc theo mặt xương sát da. Vừa sờ vừa quan sát sắc mặt người bệnh, khi người bệnh đau chói thì dừng lại và đánh dấu. Đổi tay để sờ từ đầu trung tâm ra đầu ngoại vi, nếu người bệnh vẫn đau chói tại điểm đánh dấu thì đó là điểm đau chói cố định.

+ Sờ tìm điểm đau chói cố định các xương:

– Xương cánh tay: sờ từ mỏm trên lồi cầu theo mặt ngoài cánh tay đến mấu động lớn và sờ ngược lại.

– Xương quay: sờ từ mỏm trâm quay theo mặt ngoài cẳng tay đến đài quay và sờ ngược lại.

– Xương trụ: sờ từ mỏm trâm trụ theo mặt sau cẳng tay đến mỏm khuỷu và sờ ngược lại.

+ Tìm sự mất tính liên tục của xương: kỹ thuật giống sờ tìm điểm đau chói cố định. Nếu gãy xương di lệch thấy đầu xương gồ lên dưới da hoặc cảm giác hẫng tay.

+ Dấu hiệu lạo xạo xương: là khi  ấn và day nhẹ vào ổ gãy, cảm giác hai đầu xương hoặc mảnh vỡ xương va chạm vào nhau gọi là dấu hiệu lạo xạo xương.

+ Dấu hiệu cử động bất thường: một tay cố định ở đầu trung tâm, một tay xoay nhẹ đầu ngoại vi, nếu gãy xương hoàn toàn đầu ngoại vi di chuyển nhưng đầu trung tâm không di chuyển.

* Nhận định:

– Khi gãy xương, sờ có điểm đau chói cố định, dấu hiệu lạo xạo xương, sự mất liên tục của thân xương, cử động bất thường.

 Chú ý: dấu hiệu lạo xạo xương và cử động bất thường là hai triệu chứng có giá trị trong chẩn đoán gãy xương, nhưng không nên cố tình thăm khám để chẩn đoán vì dễ gây đau đớn và tổn thương thứ phát.

c) Gõ

* Mục đích: tìm vị trí gãy xương thông qua điểm đau chói.

* Cách khám:

+ Một tay thầy thuốc giữ cẳng tay người bệnh sao cho vuông góc với cánh tay, tay còn lại dùng ô mô út gõ nhẹ với cường độ tăng dần vào khuỷu tay người bệnh hướng dồn lên trên đồng thời quan sát sắc mặt và hỏi người bệnh. Nếu người bệnh đau yêu cầu người bệnh dùng một ngón tay chỉ vào vị trí đau.

+ Người bệnh tay duỗi thẳng, thầy thuốc tay không thuận giữ cho bàn tay vuông góc với cẳng tay, dùng ô mô út tay thuận gõ nhẹ vào gốc bàn tay người bệnh,với cường độ tăng dần hướng dồn lên trên, đồng thời quan sát sắc mặt và hỏi người bệnh. Nếu người bệnh đau yêu cầu người bệnh dùng một ngón tay chỉ vào vị trí đau.

* Nhận định: Nếu gãy xương gõ dồn chi sẽ thấy điểm đau chói.

d) Đo

* Mục đích: xác định chiều dài xương, trục chi, chu vi chi.

* Xác định các mốc xương:

+ Khe khớp ức đòn: tận cùng đầu trong của xương đòn, dùng đầu mút ngón I sờ miết từ 1/3 trong xương đòn, từ ngoài vào trong có mốc nhô cao sau đó hẫng tay đó là khe khớp ức đòn.

+ Khe khớp cùng đòn: tận cùng đầu ngoài xương đòn,dùng đầu mút ngón I sờ miết từ 1/3 ngoài xương đòn, từ trong ra ngoài có mốc nhô cao sau đó hẫng tay đó là khe khớp cùng đòn.

+ Mỏm cùng vai: dùng ngón II,III,IV đặt lên gai vai sờ từ trong ra ngoài, từ sau ra trước có một mốc xương nhô cao đó là mỏm cùng vai.

+ Mỏm quạ: đặt ngón I vào rãnh Delta – ngựcsờ từ dưới lên trên thấy một mốc xương nhô cao đó là mỏm quạ.

+ Mấu động lớn: từ 1/3 trên mặt ngoài cánh tay, sờ theo xương cánh tay từ dưới lên thấy một mốc xương tròn to đó là mấu động lớn.

+ Mỏm trên lồi cầu: từ 1/3 dưới mặt ngoài cánh tay, sờ theo xương cánh tay từ trên xuống sẽ thấy một mốc xương nhô cao đó là mỏm trên lồi cầu.

+ Mỏm trên ròng rọc: từ 1/3 dưới mặt trong cánh tay, sờ theo xương cánh tay từ trênxuống dưới sẽ thấy một mốc xương nhô cao đó là mỏm trên ròng rọc.

+ Mỏm khuỷu: từ 1/3 trên mặt sau cẳng tay, sờ theo xương trụ từ dưới lên trên đến tận cùng xương trụ là mỏm khuỷu.

+ Đài quay: từ 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng tay, sờ theo xương quay từ dưới lên trên có một mốc xương nhô lên đó là đài quay.

+ Mỏm trâm quay: từ 1/3 dưới mặt trước ngoài cẳng tay, sờ theo xương quay từ trên xuống dưới có một mốc xương nhô lên sau đó hẫng tay là mỏm trâm quay.

+ Mỏm trâm trụ: từ 1/3 dưới mặt sau cẳng tay, sờ theo xương trụ từ trên xuống có một mốc xương nhô lên sau đó hẫng tay là mỏm trâm trụ.

* Đo chiều dài tuyệt đối của xương:

+ Đo chiều dài tuyệt đối của xương đòn: mốc thứ nhất khe khớp ức đòn, mốc thứ hai là khe khớp cùng đòn.

+ Đo chiều dài tuyệt đối xương cánh tay: mốc thứ nhất là mấu động lớn, mốc thứ hai là mỏm trên lồi cầu.

+ Đo chiều dài tuyệt đốixương quay: mốc thứ nhất là đài quay, mốc thứ hai là mỏm trâm quay.

+ Đo chiều dài tuyệt đốixương trụ: mốc thứ nhất là mỏm khuỷu, mốc thứ hai là mỏm trâm trụ.

* Đo chiều dài tương đối của xương:

+ Đo chiều dài tương đối của xương đòn: mốc thứ nhất khe khớp ức đòn, mốc thứ hai là mỏm cùng vai.

+ Đo chiều dài tương đối của xương cánh tay: mốc thứ nhất là mỏm cùng vai, mốc thứ hai là mỏm trên lồi cầu.

+ Đo chiều dài tương đối của xương quay: mốc thứ nhất là mỏm trên lồi cầu, mốc thứ hai là mỏm trâm quay.

+ Đo chiều dài tương đối của xương trụ: mốc thứ nhất là mỏm trên ròng rọc, mốc thứ hai là mỏm trâm trụ hoặc mốc thứ nhất mỏm trâm trụ mốc thứ hai mỏm trên lồi cầu.

* Nhận định:

– Khi gãy xương có di lệch chiều dài tuyệt đối và chiều dài tương đối thay đổi.

– Khi sai khớp chiều dài tương đối thay đổi còn chiều dài tuyệt đối không thay đổi.

* Xác định trục chi trên:

+ Trục thẳng,trục nghiêng:

– Trục thẳng: tư thế tay dạng 900, bàn tay ngửa, mốc thứ nhất là mỏm quạ, mốc thứ hai là đốt 2 ngón III. Bình thường trục thẳng chi trên đi qua chính giữa nếp gấp khuỷu.

– Trục nghiêng: tư thế tay duỗi và áp sát vào thân người, gan bàn tay hướng ra phía trước. Mốc thứ nhất là mỏm cùng vai, mốc thứ hai là bờ ngoài đốt 2 ngón II. Bình thường trục nghiêng chi trên đi qua đài quay.

+ Nhận định:Khi gãy xương có di lệch và sai khớp trục chi thay đổi.

* Đo chu vi:

+ Mục đích: Đánh giá mức độ sưng nề sau chấn thương hay teo cơ sau điều trị.

+ Cách đo: Xác định vị trí đo, vòng thước dây đo, so sánh với bên lành.

+ Nhận định: Sau chấn thương có sưng nề thường chu vi bên bệnh lớn hơn bên lành, sau điều trị thường teo chi, chu vi nhỏ hơn bên lành.

* Khám khớpvai

+ Nhìn: thấy vai bên sai khớp sưng nề, biến dạng.

+ Sờ: thấy chỏm xương cánh tay nằm ở rãnh Delta – ngực, ổ chảo rỗng, dấu hiệu bật lò xo (+).           

+ Đo:

– Chiều dài tương đối xương cánh tay thay đổi so với bên lành.

– Trục thẳng, trục nghiêng chi trên bên sai khớp thay đổi.

3. Khám tại chỗ chi dưới

a) Nhìn

* Mục đích:

+ Nhìn tư thế, dáng điệu người bệnh để định hướng vùng tổn thương.

+ Nhìn tại chỗ chấn thương để phát hiện các dấu hiệu gãy xương, sai khớp, vết thương phần mềm…

* Cách nhìn: Nhìn thẳng, nghiêng; nhìn theo trình tự từ trên xuống; nhìn cả hai bên chi thể để so sánh.

* Nhận định:

+ Tư thế, dáng điệu: chấn thương chi dưới người bệnh thường có tư thế đi cà nhắc, nằm bàn chân bị tổn thương đổ sát mặt giường.

+ Tại chỗ có thể thấy sưng nề, bầm tím, biến dạng chi thể (dài – ngắn, quai lồi, cong vẹo), nhìn thấy đầu xương gẫy…

+ Nếu có vết thương cần mô tả: vị trí, kích thước, dị vật, máu tụ…..

+ Sai khớp: chi thể ở tư thế bắt buộc, chỏm xương ở vị trí bất thường.

b) Sờ

* Mục đích: Tìm triệu chứng gãy xương.

* Cách sờ:

+ Tìm điểm đau chói cố định: một tay thầy thuốc cố định đầu trung tâm, tay còn lại dùng đầu mút ngón I sờ từ đầu ngoại vi hướng đến đầu trung tâm, sờ miết nhẹ theo kiểu sâu đo dọc theo mặt xương sát da. Vừa sờ vừa quan sát sắc mặt người bệnh, khi người bệnh đau chói thì dừng lại và đánh dấu. Đổi tay để sờ từ đầu trung tâm ra đầu ngoại vi, nếu người bệnh vẫn đau chói tại điểm đánh dấu thì đó là điểm đau chói cố định.

+ Sờ tìm điểm đau chói cố định các xương:

– Xương đùi: sờ từ lồi cầu ngoài theo mặt ngoài đùi đến mấu chuyển lớn và sờ ngược lại.

– Xương chày: sờ từ mắt cá trong theo mặt trong cẳng chân, lên trên ra trước đến lồi củ trước xương chày và sờ ngược lại.

– Xương mác: sờ từ mắt cá ngoài theo mặt ngoài cẳng chân lên trên đến chỏm xương mác và sờ ngược lại.

+ Tìm sự mất tính liên tục của xương: kỹ thuật giống sờ tìm điểm đau chói cố định. Nếu gãy xương di lệch thấy đầu xương gồ lên dưới da hoặc cảm giác hẫng tay.

+ Dấu hiệu lạo xạo xương: là khi  ấn và day nhẹ vào ổ gãy, thấy tiếng lạo xạo cảm nhận qua đầu ngón tay do hai đầu xương gãy hoặc mảnh xương vỡ va chạm vào nhau.

+ Dấu hiệu cử động bất thường: là khi một tay cố định ở đầu trung tâm, một tay xoay nhẹ đầu ngoại vi,nếu gãy xương hoàn toàn đầu ngoại vi di chuyển nhưng đầu trung tâm không di chuyển.

* Nhận định: Nếu gãy xương sờ có điểm đau chói cố định, dấu hiệu lạo xạo xương, sự mất liên tục của thân xương, cử động bất thường.

 Chú ý: dấu hiệu lạo xạo xương và cử động bất thường là hai triệu chứng có giá trị trong chẩn đoán gãy xương, nhưng không nên cố tình thăm khám để chẩn đoán vì dễ gây đau đớn và tổn thương thứ phát.

c) Gõ

* Mục đích: tìm vị trí gãy xương thông qua điểm đau chói cố định.

* Cách khám: Người bệnh chân duỗi thẳng, thầy thuốc tay không thuận giữ cho bàn chân vuông góc với cẳng chân, dùng ô mô út tay thuận gõ nhẹ vào gót bàn chânngười bệnh,với cường độ tăng dần hướng dồn lên trên, đồng thời quan sát sắc mặt và hỏi người bệnh. Nếu người bệnh đau yêu cầu người bệnh dùng một ngón tay chỉ vào vị trí đau.

*Nhận định: Nếu gãy xương gõ dồn chi sẽ thấy điểm đau chói.

d) Đo

* Mục đích: xác định chiều dài xương, trục chi, chu vi.

* Xác định các mốc xương:

+ Gai chậu trước trên: vuốt dọc mào chậu từ sau ra trước, từ trên xuống dưới khi nào thấy điểm nhô cao nhất, sau đó hẫng tay thì điểm nhô cao nhất đó chính là gai chậu trước trên.

+ Mấu chuyển lớn: từ 1/3 trên mặt ngoài đùi, sờ theo xương đùi từ dưới lên thấy một mốc xương cao nhất đó là mấu chuyển lớn.

+ Lồi cầu ngoài xương đùi: từ 1/3 dưới mặt ngoài đùi, sờ theo xương đùi từ trên xuống sẽ thấy một mốc xương nhô cao nhất đó là lồi cầu ngoài.

+ Lồi cầu trong xương đùi: từ 1/3 dưới mặt trong đùi, sờ theo xương đùi từ trên xuống dưới sẽ thấy một mốc xương nhô cao nhất đó là lồi cầu trong.

+ Lồi củ trước xương chày: vuốt dọc mào chày từ giữa xương chày lên trên, khi thấy điểm nhô cao nhất đó là lồi củ trước xương chày.

+ Chỏm xương mác: từ 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng chân, sờ theo xương mác từ dưới lên trên có một điểm nhô cao nhất đó là chỏm xương mác.

+ Mắt cá ngoài: từ 1/3 dưới mặt trước ngoài cẳng chân, sờ theo xương mác từ trên xuống dưới có một điểm nhô cao nhấtđó là mắt cá ngoài.

+ Mắt cá trong: từ 1/3 dưới mặt trong cẳng chân, sờ theo xương chày từ trên xuống có một điểm nhô cao nhất đó là mắt cá trong.

* Đo chiều dài tuyệt đối của xương:

Chiều dài tuyệt đối là đo độ dài giữa hai mốc xương ở hai đầu trên cùng một thân xương

 + Đo chiều dài tuyệt đối của xương đùi: mốc thứ nhất mấu chuyển lớn, mốc thứ hai là lồi cầu ngoài.

+ Đo chiều dài tuyệt đốixương chày: mốc thứ nhất là lồi củ trước xương chày, mốc thứ hai là mắt cá trong.

+ Đo chiều dài tuyệt đối xương mác: mốc thứ nhất là chỏm xương mác, mốc thứ hai là mắt cá ngoài.

* Đo chiều dài tương đối của xương:

Chiều dài tương đối là đo độ dài giữa hai mốc xương ở hai thân xương khác nhau qua một khe khớp:

+ Đo chiều dài tương đối của xương đùi: mốc thứ nhất gai chậu trước trên, mốc thứ hai là lồi cầu ngoài.

+ Đo chiều dài tương đối của xương chày: mốc thứ nhất là lồi cầu trong, mốc thứ hai là mắt cá trong.

+ Đo chiều dài tương đối của xương mác: mốc thứ nhất là lồi cầu ngoài, mốc thứ hai là mắt cá ngoài.

* Nhận định:

+ Khi gãy xương có di lệch chiều dài tuyệt đối và chiều dài tương đối thay đổi.

+ Khi sai khớp chiều dài tương đối thay đổi còn chiều dài tuyệt đối không thay đổi.

* Xác định trục chi dưới:

+ Cách xác định :

– Trục thẳng:tư thế chân duỗi thẳng, mốc thứ nhất là gai chậu trước trên, mốc thứ hai là khe giữa hai ngón 1 và 2. Bình thường trục thẳng chi dưới đi qua bờ ngoài xương bánh chè.

– Trục nghiêng: tư thế chân duỗi thẳng, mốc thứ nhất là mấu chuyển lớn, mốc thứ hai là mắt cá ngoài. Bình thường trục nghiêng chi dưới đi qua chỏm xương mác.

+ Nhận định:Khi gãy xương có di lệch và sai khớp trục chi thay đổi.

* Đo chu vi:

+ Mục đích: đánh giá chu vi chi sau chấn thương hoặc sau điều trị.

+ Cách đo: Xác định vị trí đo, vòng thước dây đo, so sánh với bên lành.

+ Nhận định: Sau chấn thương có sưng nề thường chu vi bên bệnh lớn hơn bên lành, sau điều trị thường teo chi, chu vi nhỏ hơn bên lành.

* Khám khớp gối

+ Dấu hiệu bập bềnh xương bánh chè: Người bệnh duỗi thẳng chân. Thầy thuốc một tay dồn dịch từ 1/3 dưới của đùi xuống cố định phía trên khớp gối. Tay còn lại dùng ngón một và ngón ba đặt hai bên khe khớp gối, ngón hai của bàn tay này đặt vuông góc vào chính giữa xương bánh chè ấn xuống, sau đó từ từ nhấc lên nhưng ngón tay không dời khỏi mặt da, nếu thấy xương bánh chè nổi lên theo tay là dấu hiệu dương tính, gặp trong tràn dịch khớp gối.

+ Dấu hiệu há khớp gối: Bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng. Khám dây chằng bên trong. Thầy thuốc một tay nắm lấy mặt trong cổ chân người bệnh đẩy ra, tay còn lại đặt mặt ngoài khớp gối đẩy vào, lực đẩy nhẹ nhàng và tăng dần, quan sát khe khớp gối bên trong. Nếu thấy khe khớp há ra là dấu hiệu dương tính, gặp trong tổn thương dây chằng bên trong. Khám dây chằng bên ngoài, đổi tay, lực đẩy ngược lại.

+ Dấu hiệu ngăn kéo: Người bệnh nằm ngửa, đùi gấp 450, cẳng chân gấp 90 độ. Thầy thuốc ngồi chặn bàn chân bệnh nhân để cố định, tám ngón tay đặt phía sau trên cẳng chân, hai ngón cái đặt ở lồi củ trước xương chày, làm động tác đẩy mâm chày ra sau và kéo mâm chày ra trước. Nếu mâm chày bị nhô ra trước hoặc tụt ra sau trên 1cm là dấu hiệu ngăn kéo dương tính (ra trước là tổn thương dây chằng chéo trước, ra sau là biểu hiện tổn thương dây chằng chéo sau).


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn