» TRIỆU CHỨNG CƠ QUAN TẠO MÁU TRIỆU CHỨNG CƠ QUAN TẠO MÁU – Y học online

Giáo trình triệu chứng nội khoa

TRIỆU CHỨNG CƠ QUAN TẠO MÁU



I. HỘI CHỨNG THIẾU MÁU

1. Khái niệm: Thiếu máu là khi số l­ượng hồng cầu giảm, HST giảm và hematocrit của máu ngoại vi giảm. Trong đó thiếu huyết sắc tố là quan trọng nhất.

2. Triệu chứng

a) Lâm sàng

Có một số triệu chứng chung cho mọi loại thiếu máu, bất kỳ do nguyên nhân nào:

– Xanh xao ở da và niêm mạc. Thường rõ nhất ở lòng bàn tay, mô móng các ngón, niêm mạc mắt, mồm, họng…

– Các rối loạn thần kinh: dễ bị ngất, thoáng ngất, mệt mỏi, ù tai, hoa mắt, chóng mặt, nhất là khi thay đổi tư thế, người rất hay mệt.

– Cảm giác hồi hộp trống ngực, nhất là khi gắng sức. Khám thấy tim đập nhanh, có thể nghe tiếng thổi tâm thu chức năng.

– Rối loạn tiêu hoá: chán ăn, nôn, ỉa chảy, hoặc táo bón.

– Ở phụ nữ còn thấy bế kinh, nam giới bất lực.

– Chuyển hoá cơ bản hơi tăng và nhiều khi người bệnh thấy sốt nhẹ.

Trường hợp thiếu máu do tan máu ngoài các dấu hiệu trên, còn có thể thấy vàng da. Khi thăm khám lâm sàng cần chú ý đến hệ thống gan, lách và hạch.

b) Cận lâm sàng

Lâm sàng khó quyết định được thiếu máu, nhất là xác định mức độ thiếu máu. Do vậy cần phải tiến hành đếm hồng cầu và làm một số xét nghiệm để xác nhận chẩn đoán, nhất là chẩn đoán căn nguyên.

* Công thức máu:

Cho biết mức độ chính xác của thiếu máu, ngoài ra còn biết được hình dáng, kích thước, màu sắc hồng cầu. Công thức màu còn cho biết số lượng bạch cầu, tỷ lệ bạch cầu các loại, tiểu cầu.

* Số lượng huyết cần tố:

Bình thường trong 100ml máu có 11 đến 16g hemoglobin.

* Giá trị hồng cầu:

Bình thường là 1. lúc đó gọi là thiếu máu đẳng sắc. Khi lớn hơn 1 gọi là thiếu máu ưu sắc, bé hơn 1 gọi là thiếu máu nhược sắc.

* Hematocrit.

Đó là thể tích hồng cầu. Bình thường là 43,5%.

Với các con số kết quả trên, ta có thể tính thêm được những chỉ số sau đây:

+ Thể tích trung bình của 1 hồng cầu:

– Bình thường thễ tích của một hồng cầu là 88 mm3.

– Khi thể tích từ 80 đến 100 mm3 là thiếu máu hồng cầu trung bình (normocytaire).

– Khi dưới 80 mm3: thiếu máu hồng cầu nhỏ (microcytaire).

– Khi trên 100 mm3: thiếu máu hồng cầu to (macrocytaire).

– Thường thường trong thiếu máu, các kết quả giá trị hồng cầu và thể tích hồng cầu ăn khớp với nhau:

  • Thiếu máu hồng cầu to thường ưu sắc.
  • Thiếu máu hồng cầu trung bình thường đẳng sắc.
  • Thiếu máu hồng cầu nhỏ thường nhươc sắc.

+  Nồng độ trung bình về huyết cầu tố của hồng cầu

– Bình thường là 33-35g.

– Khi tỷ lệ này thấp, chứng tỏ bệnh thiếu máu nhược sắc thực sự và lúc đó nguyên nhân chủ yếu là thiếu sắt.

* Tủy đồ:

Cho biết phản ứng của tuỷ về sự sinh sản hồng cầu và phát hiện được các tế bào lạ.

* Xét nghiệm phân:

Tìm ký sinh vật ruột, đặc biệt chú ý tới giun móc. Thường người ta làm phản ứng Weber Meyer để tìm hồng cầu trong phân.

3. Chẩn đoán nguyên nhân thiếu máu (SGK).

Dựa vào các kết quả các xét nghiệm đã làm và dựa vào các phần sinh lý, sinh hoá tế bào máu chúng tôi xin giới thiệu hai cách sắp xếp phân loại thiếu máu:

– Dựa vào hình thái.

– Dựa vào nguyên nhân.

II. HỘI CHỨNG CHẢY MÁU

1. Khái niệm:

Chảy máu là hiện tượng máu ra khỏi thành mạch vì vỡ mạch hay không vỡ mạch.

2. Triệu chứng

a) Các hình thái chảy máu.

* Chảy máu dưới da:

+ Đặc tính:

–  Nổi lên một cách đột ngột, hoặc sau những va chạm rất nhẹ như gãi, cọ xát.

– Lấy ngón tay hoặc miếng kính ấn vào không mất.

+ Biểu hiện: Tuỳ theo kích thước các nốt ta có.

– Vệt máu: là những vết chảy máu ở các nếp gấp của da như ở khuỷu tay, khoeo chân.

– Nốt chấm máu: đường kính 1- 10mm.

– Đám máu do nhiều chấm hợp lại.

– Mảng máu: đường kính từ 1 – 10cm.

– Cục máu: to, nổi cục dưới da, ấn vào đau.

+ Vị trí:

Mọc bất cứ chỗ nào trong cơ thể, nhưng nhiều hơn ở các chi dưới và các nếp gấp.

+ Số lượng:

Nhiều ít, tuỳ theo bệnh.

+ Màu sắc:

Lúc đầu khi mới xuất hiện màu đỏ, sau chuyển dần thành tím, xanh đến vàng rồi biến mất. Trên cùng một vùng da, ta có thể thấy những nốt màu sắc khác nhau do xuất hiện thời gian khác nhau.

* Chảy máu niêm mạc:

– Rong huyết tử cung: kinh kéo dài ngày hoặc một tháng thấy kinh nhiều lần.

– Chảy máu đường tiêu hoá gây nôn máu, ỉa ra phân đen hoặc máu tươi ít có.

– Ngoài ra còn có thể chảy máu đường tiết niệu (thận, bàng quang), lách, màng tim, màng phổi, màng bụng…

* Chảy máu các khớp xương.

Thường gặp nhất ở khớp gối.

b) Chẩn đoán phân biệt.

Các nốt chảy máu trên, có thể nhầm với:

* Nốt muỗi đốt:

Thường là những chỗ hở, không có quần áo che như mặt, cánh tay, đầu gối. Hơi nổi lên mặt da và khi ấn vào, nốt mất đi.

* Phát ban:

Trong một số bệnh như sởi, rubêôn hoặc dị ứng. Ấn tay hoặc miếng kính, các nốt phát ban sẽ mất. Trong cùng một vùng, các màu sắc thường đồng đều.

c) Cận lâm sàng

* Công thức máu:

Đặc biệt chú ý tới tiểu cầu: số lượng hìn thái, kích thước. Cần nhớ là có rất nhiều nguyên nhân làm sai lạc kết quả đếm tiểu cầu do hiện tượng ngưng tụ hoặc tan của tiểu cầu. Bình thường số tiểu cầu là 200.000 đến 300.000, nhưng chỉ khi hạ xuống dưới 80.000 mới coi là thiếu.

* Các xét nghiệm về thành mạch.

– Dấu hiệu dây thắt: lấy dây cao su buộc chặt một đoạn chi hoặc lấy băng của máy đo huyết áp quấn vào một đoạn chi rồi bơm hơi cho gần đến số tối đa. Để trong 10 phút rồi tháo hơi ra thật nhanh. Dấu hiệu dương tính khi thấy xuất hiện phía dưới chỗ quấn dây nhiều chấm chảy máu (trên 20 chấm).

– Dấu hiệu giác: dùng ống giác có nối với một áp kế, áp ống giác vào một phần da chi. Bình thường khi bơm đến áp lực 35 cm Hg thì mới thấy các chấm máu xuất hiện. Bệnh lý: khi chấm máu xuất hiện dưới 35cm/Hg.

* Các xét nghiệm về tính chất của máu (xem phần trên).

3. Chẩn đoán nguyên nhân (SGK).

Vì cơ chế cầm máu nói trên, chảy máu có thể do một trong ba nguyên nhân lớn sau đây;

– Do tổn thương tiểu cầu: Hay gặp nhất.

– Do tổn thương thành mạch: ít gặp hơn.

 – Do huyết tương: không có tác dụng làm đông máu: càng ít gặp hơn hai loại trên.

III. HỘI CHỨNG HẠCH TO

1. Triệu chứng và chẩn đoán

a) Triệu chứng hạch to

+ Vị trí hạch:

Thường hạch to ở dưới hàm, hai bên cổ phía sau cơ ức đòn chũm, hố thượng đòn, nách, bẹn, khoeo chân, khuỷu tay. Hạch nửa người trên thường là hạch lao, hạch ung thư hay hạch trong bệnh Hodgkin: hạch bẹn thường nghĩ đến bệnh hoa liễu, ung thư hạch.

Cần xem hạch ở một bên hoặc hai bên, và nếu có cả hai bên, cần xem có đều khau không?.

+ Thể tích và mật độ:

Cần xem hạch to hay nhỏ. Hạch lao, hạch viêm thường, hạch di căn ung thư, hạch trong các bệnh bạch huyết thường nhỏ. Ung thư hạch hoặc hạch trong bệnh Hodgkin thường to hơn.

Chú ý xem mật độ hạch rắn hay mềm. Hạch lao trong giai đoạn đầu hoặc giai đoạn bã đậu hoá, hạch viêm thường mềm. Hạch ung thư, Hoodgkin thường rắn.hạch trong các bệnh bạch cầu, mật độ thường chắc.

+ Hình thể:

Hạch tròn đều nhẵn, bờ rõ rệt gặp trong bệnh bạch cầu. Hạch lao ung thư thường dính vào nhau làm thành từng đám hoặc dính vào mô xung quanh nên lổn nhổn không đều, khó giới hạn rõ rệt.

+ Độ di động.

Trong bệnh bạch cầu hoặc hạch di căn ung thư, thường hạch nọ tách rời hạch kia nên di động dễ dàng. Trái với hạch ung thư, hạch lao di động dễ dàng trong giai đoạn đầu nhưng sau thường dính vào da hoặc mô xung quanh nhưng cũng khó di động.

+ Đau, nóng:

Hạch viêm cấp thường đau, nóng, đỏ. Còn hạch ung thư lao, hạch trong bệnh bạch cầu thường không đau. Tuy nhiên, khi hạch phát triển, chèn ép vào các dây thần kinh bên cạnh, gây đau một vùng đó. Hạch bội nhiễm, hạch có thể đỏ lên và đau.

+ Tiến triển:

Hạch của bệnh Hodgkin xuất hiện từng đợt. Hạch lao tiến triển chậm hơn hạch ung thư. Cần chú ý đến cáp vết sẹo trên các hạch to. Hạch có lỗ rò hoặc sẹo căn rúm làm ta nghĩ nhiều đến hạch lao, nhất là nếu lại mọc ở cổ (tràng nhạc).

+ Khám các bộ phận khác: Sau khi đã xác định hạch to, cần chú ý kiểm tra gan lách, phát hiện các bệnh về máu.

b) Phân biệt

– Các u nang, u mỡ dưới da: thường mềm hơn và nhiều khi không ở trong những vùng của hạch bạch huýêt.

– U nang bươu giáp trạng đơn thuần hoặc nhân giáp trạng: di động theo nhịp nuốt, mật độ thường mềm hơn, nhất là u nang.

– Thoát vị bẹn: có thể đẩy lên được.

– U trung thất: rất khó phân biệt định, cần chụp cắt lớp.

– U mạc treo: rất khó phân biệt với hạch. Soi ổ bụng, có khi phải mổ thăm dò ở ổ bụng.

2) Chẩn đoán nguyên nhân hạch to.

* Hạch viêm cấp tính.

+ Viêm nhiễm gây sưng tấy một vùng: vêm họng gây hạch tở dưới hàm.

+ Một số bệnh số phát ban thành dịch: bệnh đăng gơ.

* Bệnh viêm mạn tính.

+ Hạch trong bệnh hoa liễu: giang mai, bệnh Nicolas Favre.

+ Hạch lao: Lúc đầu, thường hạch ở hai bên cổ, trước và sau cơ ức đòn chũm,   sau    mới lên hạch sau gáy, hố thượng đòn, ít khi gặp hạch to ở nách và bẹn. Hạch nổi thành từng chuỗi (tràng hạt). Cũng có khi chỉ có một hạch to nổi lên một bên cổ.

* Hạch ung thư:

+ Ung thư hạch: Thường hạch to, mật độ rắn, ít di động vì dính vào tổ chức ở sâu.

* Hạch to trong các bệnh về máu.

+ Bệnh bạch cầu: bạch cầu lym phô, bạch cầu cấp, bệnh Hodgkin.

IV. HỘI CHỨNG LÁCH TO

1. Khái niệm: Lách to là tình trạng kích thước của lách to hơn so với kích thước bình thường.

2. Triệu chứng

a) Cơ năng

– Có cảm giác tức nặng vùng hạ sườn trái.

– Có thể đau hoặc không tùy theo nguyên nhân gây lách to.

– Kèm theo thường có các triệu chứng cơ năng của bệnh gây lách to.

b) Thực thể

+ Nhìn: khi lách to nhiều có thể nhìn thấy vùng hạ sườn trái vồng lên.

+ Sờ:

– Có thể thấy được bờ răng cưa (bờ trước của lách) dưới bờ sườn trái.

– Đặc điểm lách to: là một khối liên tục với bờ sườn, có đầu trũng di động theo nhịp thở, bờ trước của khối có 2 – 3 khứa, là dấu hiệu bờ răng cưa của lách.

– Lách có thể to sang phải gọi là lách ngang, cần khám kỹ để phân biệt với thựy trái gan; lách có thể to xuống hố chậu trái gọi là lách dọc.

+ Gõ: có thể thấy diện đục của lách to ra.

+ Phân độ lách to:

– Lách to độ 1: quá bờ sườn 2cm.

– Lách to độ 2: quá bờ sườn 4cm.

– Lách to độ 3: đến rốn.

– Lách to độ 4: quá rốn.

c) Cận lâm sàng

– Siêu âm, chụp cắt lớp vi tính thấy kích thước lách tăng

– Xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu.

– Xét nghiệm tủy xương…

d) Nguyên nhân

– Lách to trong các bệnh nhiễm ký sinh trùng: sốt rét.

– Lách to trong bệnh máu: Bệnh bạch cầu mạn, huyết tán (cường lách), Hodgkin.

– Lách to trong bệnh hệ thống tĩnh mạch cửa: Xơ gan, hội chứng Banti.

– Lách to trong bệnh nhiễm khuẩn: nhiễm khuẩn huyết, thương hàn.

KHÁM CƠ QUAN TẠO MÁU

I. CHUẨN BỊ

1. Phòng khám

– Đủ rộng, đủ ánh sáng, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.

– Có giường cho người bệnh nằm; bàn, ghế cho thầy thuốc làm việc.

2. Dụng cụ

– Ống nghe:                           01 cái

– Huyết áp kế:                       01 cái

– Nhiệt kế:                 01 cái

– Đồng hồ có kim giây:        01 cái

– Bút phớt:                             01 cái

3. Thầy thuốc

– Tác phong chững chạc, mặc áo công tác, đội mũ, đeo khẩu trang.

– Có thái độ đúng mực, tạo sự tin tưởng cho người bệnh ngay lần tiếp xúc đầu tiên.

4. Người bệnh

– Người bệnh có thể nằm ngữa, nằm nghiêng, ngồi phù hợp với cơ quan cần khám.

– Được động viên, giải thích trước khi khám; phối hợp với thầy thuốc trong quá trình khám.

II. HỎI BỆNH

1. Họ và tên bệnh nhân; tuổi; giới.

2. Địa chỉ

3. Nghề nghiệp:

– Đặc biệt hỏi những nghề nghiệp tiếp xúc nhiều với những hoá chất như chỉ, benzen, toluen… hoặc tiếp xúc với các chất phóng xạ, quang tuyến X như các nhân viên phòng điện quang, công nhân các viện nghiên cứu phòng xạ là một trong những nguyên nhân chủ yếu của các bệnh máu ác tính: các bệnh bạch huyết, bệnh thiếu máu không hồi phục.

– Nghề nghiệp tiếp xúc với phân tươi như trồng rau bón bằng phân bắc, rất dễ mắc giun móc câu, là một trong những nguyên nhân gây thiếu máu nhiều.

4. Lý do vào viện: chú ý đến các biểu hiện bệnh lý cơ quan tạo máu như chảy máu, sưng đau hạch, hoa mắt, chóng mặt, da xanh, đau hạ sườn trái…

5. Bệnh sử: khai thác tỉ mỉ, chi tiết thời gian xuất hiện triệu chứng; đặc điểm, tính chất; các triệu chứng kèm theo; khám, điều trị ở các tuyến trước khi vào viện; hiện tại.

6. Tiền sử:

+ Bản thân:

– Chú ý đến tiền sử chảy máu như chảy máu cam, máu lợi, máu chảy lâu cầm mỗi khi va chạm nhỏ hoặc khi tiêm, chích, nhổ răng, cắt amidan…

– Hỏi những rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ, đặc biệt hiện tượng rong kinh, băng huyết, tiền sử chửa đẻ, nhất là những lần sẩy thai liên tiếp làm nghĩ đến sự không hợp yếu tố Rh trong máu.

– Hỏi tiền sử dùng thuốc: một số thuốc như cloroxit, quinin, sedocmit, các thuốc an thần, các thuốc chống ung thư, các hócmon, do cơ chế ngộ độc hoặc dị ứng, có thể gây ra các bệnh về máu như chảy máu dưới da hay nội tạng, suy tuỷ…Do đó cần hỏi tỉ mỉ các thuốc đã dùng hoặc đang dùng, liều lượng và nhất là cố gắng tìm mối liên quan giữa dùng thuốc với sự xuất hiện các triệu chứng.

+ Gia đình:

– Trước một người bệnh mắc bệnh về máu, phải hỏi tình trạng sức khoẻ, bệnh tật của anh chị em ruột, cô dì chú bác. Hỏi xem trong gia đình, họ hàng gần, có người nào mắc những bệnh tương tự như người bệnh.

– Trong một số trường hợp nghi ngờ, hỏi người bệnh chưa đủ mà phải mời gia đình người bệnh đến để thăm khám và làm các xét nghiệm cần thiết. Có như vậy mới phát hiện được một số bệnh về máu có tính chất gia truyền có thể đặt vấn đề điều trị và nhất là hướng dẫn cách phòng bệnh cho cả gia đỉnh đó.

Hỏi bệnh lý cơ quan tạo máu cũng giống như trình tự hỏi bệnh các cơ quan khác nhưng cần chú ý đến nghề nghiệp, tiền sử dùng thuốc, tiền sử bản thân và gia đình.

III. KHÁM BỆNH

1. Khám toàn thân:

a) Mục đích: Phát hiện các triệu chứng bệnh lý cơ quan tạo máu biểu hiện ra toàn thân.

b) Cách khám, nhận định

+ Đánh giá thể trạng:

– Quan sát thể trạng bệnh nhân hoặc đo chiều cao, cân nặng để tính chỉ số khối cơ thể (BMI). Bình thường chỉ số khối cơ thể 18 – 23.

– Người gầy yếu, suy kiệt thường gặp trong các bệnh máu mạn tính, ác tính.

+ Khám da, niêm mạc:

– Quan sát niêm mạc mắt, môi, lưỡi; quan sát da ở những vị trí ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời: mặt, ngực, bụng, mặt trong cánh tay, cẳng tay, gan bàn tay, đùi, cẳng chân; quan sát các nếp nhăn tự nhiên, các mốc, các hố tự nhiên.

– Bình thường: da vàng ánh hồng, niêm mạc hồng.

– Bệnh lý: có thể gặp tình trạng thiếu máu; chảy máu dưới da, niêm mạc.

+ Thăm khám kỹ các cơ quan hạch, gan, lách, Amidan, tuần hoàn, hô hấp…

+ Kiểm tra dấu hiệu sinh tồn:

– Đếm mạch, nhịp thở; đo huyết áp và nhiệt độ cho bệnh nhân.

– Bình thường: dấu hiệu sinh tồn trong giới hạn bình thường.

– Bệnh lý: mạch nhanh, huyết áp tụt khi có thiếu máu; sốt gặp trong nhiễm khuẩn.

2. Khám lách

a) Nhìn: khi lách to nhiều có thể thấy vùng hạ sườn phải căng vồng.

b) Sờ:

+ Cách sờ: theo hai đường.

–  Từ hố chậu phải qua rốn đến hạ sườn trái.

–  Từ hố chậu trái hướng lên hạ sườn trái.

+ Nhận định:

– Bình thường không sờ thấy lách.

– Nếu lách to:

. Có thể thấy được bờ răng cưa (bờ trước của lách) dưới bờ sườn trái.

. Đặc điểm lách to: là một khối liên tục với bờ sườn, có đầu trũng di động theo nhịp thở, bờ trước của khối có 2 – 3 khứa, là dấu hiệu bờ răng cưa của lách.

c) Gõ

* Cách gõ: theo 2 đường như sờ

* Nhận định:

+ Bình thường diện đục lách nằm trong giới hạn bình thường.

+ Nếu lách to diện đục của lách thay đổi. Phân chia độ lách như sau.

– Cách 1:

  • Lách to độ 1: quá bờ sườn trái 2cm.
  • Lách to độ 2: quá bờ sườn trái 4cm.
  • Lách to độ 3: đến rốn.
  • Lách to độ 4: quá rốn.

– Cách 2:  Kẻ 1 đường từ mũi ức đến rốn; Kẻ 1 đường ngang rốn vuông góc về phía bên trái; Kẻ 1 phân giác của góc này tới bờ sườn trái chia đường này thành 2 phần bằng nhau ,1/2 trên chia làm  2 phần bằng nhau nữa.

  • Lách to độ 1 trong khoảng 1/4 trên
  • Lách to độ 2 từ quá 1/4 đến 1/2 trên
  • Lách to độ 3 trong khoảng 1/2 dưới
  • Lách to độ 4 quá rốn

2. Khám hạch

Có thể khám ở tư thế bệnh nhân nằm hoặc ngồi. Thông thường khám các hạch đầu, mặt, cổ, nách bệnh nhân tư thế ngồi; khám các hạch ben, khoeo khám tư thế nằm.

a) Nhìn:

Quan sát da trên bề mặt vùng hạch: trước tai, sau tai, trước và sau cơ ức đòn chủm, hạch gốc hàm, hạch dưới hàm, hạch hố thượng đòn, hạch nách, bẹn, khoeo chân.

b) Sờ:

 Dùng các đầu ngón tay sờ nắn nhẹ nhàng, tỉ mỉ từng vùng hạch theo thứ tự trước tai, sau tai, trước và sau cơ ức đòn chủm, hạch gốc hàm, dưới hàm, hạch hố thượng đòn, hạch nách, bẹn, khoeo. Vừa sờ nắn két hợp hỏi bệnh nhân để đánh giá tính chất hạch.

c) Kết quả:

* Bình thường: da tên vùng hạch bình thường; không sờ thấy hạch; ấn vùng hạch bệnh nhân không đau.

* Bệnh lý: hạch to có thể gặp trong bệnh lý cấp tính, mạn tính, ác tính. Đặc điểm tính chất hạch cần mo tả.

+ Vị trí hạch:

Hạch nửa người trên thường là hạch lao, hạch ung thư hay hạch trong bệnh Hodgkin. Hạch bẹn thường nghĩ đến bệnh hoa liễu, ung thư hạch, bệnh lý tiểu khung.

+ Thể tích và mật độ:

Cần xem hạch to hay nhỏ, mật độ hạch rắn hay mềm. Hạch lao trong giai đoạn đầu hoặc giai đoạn bã đậu hoá, hạch viêm thường mềm. Hạch ung thư, Hoodgkin thường rắn. Hạch trong các bệnh bạch cầu, mật độ thường chắc.

+ Hình thể:

Hạch tròn đều nhẵn, bờ rõ rệt gặp trong bệnh bạch cầu. Hạch lao ung thư thường dính vào nhau làm thành từng đám hoặc dính vào mô xung quanh nên lổn nhổn không đều, khó giới hạn rõ rệt.

+ Độ di động.

Trong bệnh bạch cầu hoặc hạch di căn ung thư, thường hạch nọ tách rời hạch kia nên di động dễ dàng. Trái với hạch ung thư, hạch lao di động dễ dàng trong giai đoạn đầu nhưng sau thường dính vào da hoặc mô xung quanh nhưng cũng khó di động.

+ Đau, nóng:

Hạch viêm cấp thường đau, nóng, đỏ. Còn hạch ung thư lao, hạch trong bệnh bạch cầu thường không đau. Tuy nhiên, khi hạch phát triển, chèn ép vào các dây thần kinh bên cạnh, gây đau một vùng đó. Hạch bội nhiễm, hạch có thể đỏ lên và đau.

+ Tiến triển:

Hạch của bệnh Hodgkin xuất hiện từng đợt. Hạch lao tiến triển chậm hơn hạch ung thư. Cần chú ý đến cáp vết sẹo trên các hạch to. Hạch có lỗ rò hoặc sẹo căn rúm làm ta nghĩ nhiều đến hạch lao, nhất là nếu lại mọc ở cổ (tràng hạt).

+ Khám các bộ phận khác: Sau khi đã xác định hạch to, cần chú ý kiểm tra gan lách, phát hiện các bệnh về máu.

Đối với hạch ở sâu trong cơ thể chủ yếu phát hiện được thông qua siêu âm và chụp cắt lớp vi tính. Khi phát hiện thấy hạch ngoài mô tả vị trí, tính chất, các triệu chứng đi kèm có thể chọc sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh tế bào.

3. Khám thiếu máu, chảy máu

a) Cách khám:

– Quan sát niêm mạc mắt, môi, lưỡi, lợi; quan sát da ở những vị trí ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời: mặt, ngực, bụng, mặt trong cánh tay, cẳng tay, gan bàn tay, đùi, cẳng chân; quan sát các nếp nhăn tự nhiên, các mốc, các hố tự nhiên.

– Làm dấu hiệu dây thắt: lấy dây cao su buộc chặt một đoạn chi hoặc lấy băng của máy đo huyết áp quấn vào một đoạn chi rồi bơm hơi cho gần đến số tối đa. Để trong 10 phút rồi tháo hơi ra thật nhanh. Dấu hiệu dương tính khi thấy xuất hiện phía dưới chỗ quấn dây nhiều chấm chảy máu (trên 20 chấm).

– Làm dấu hiệu ấn phiến kính: dùng phiến kính ấn lên vùng da nghi ngờ chảy máu và quan sát. Nếu vùng nghi ngờ chảy máu không mất đi là biểu hiện của chảy máu dưới da; nếu mất đi có thể ban hoặc nốt muỗi đốt.

– Khám chuyên khoa tim mạch, hô hấp, thần kinh, nội tiết

b) Nhận định và đánh giá kết quả

* Bình thường: da niêm mạc hồng; dấu hiệu dây thắt (-); dấu hiệu ấn phiến kính (-).

* Bệnh lý:

+ Thiếu máu:

Có một số triệu chứng chung cho mọi loại thiếu máu, bất kỳ do nguyên nhân nào:

– Xanh xao ở da và niêm mạc. Thường rõ nhất ở lòng bàn tay, mô móng các ngón, niêm mạc mắt, mồm, họng…Thiếu máu do tan máu da, niêm mạc có màu vàng.

– Các rối loạn thần kinh: dễ bị ngất, thoáng ngất, mệt mỏi, ù tai, hoa mắt, chóng mặt, nhất là khi thay đổi tư thế, người rất hay mệt.

– Cảm giác hồi hộp trống ngực, nhất là khi gắng sức. Khám thấy tim đập nhanh, có thể nghe tiếng thổi tâm thu chức năng.

– Rối loạn tiêu hoá: chán ăn, nôn, ỉa chảy, hoặc táo bón.

– Ở phụ nữ còn thấy rối loạn kinh nguyệt, nam giới bất lực.

+ Chảy máu

– Đặc tính: xuất hiện đột ngột hoặc sau một va chạm nhẹ như va chạm, gãi, cọ xát. Lấy ngón tay án không mất, ấn phiến kính không mất.

– Hình thái: chảy máu dưới da, chảy máu niêm mạc, chảy máu nội tạng.

– Vị trí: bất cứ vị trí nào.

– Số lượng: nhiều ít tùy bệnh. Có thể nốt, chấm, vệt, dãi, đám, mảng, khối máu.

– Màu sắc: lúc đầu khi mới xuất hiện màu đỏ, sau chuyển dần thành tím, xanh đến vàng rồi biến mất. Trên cùng một vùng da, ta có thể thấy những nốt màu sắc khác nhau do xuất hiện thời gian khác nhau.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn