» Chương 9 Hình ảnh hệ tim mạch Chương 9 Hình ảnh hệ tim mạch – Y học online

Core Radiology

Chương 9 Hình ảnh hệ tim mạch



Giải phẫu động mạch chủ

Cung ĐMC và các biến thể

Các nhánh bình thường của ĐMC

Mô hình bình thường của cung ĐMC được thấy ở 66% các trường hợpvới đặc điểm là có 3 động mạch xuất phát từ cung ĐMC: thân động mạch cánh tay đầu,ĐM cảnh chung trái, và ĐM dưới đòn trái.

Thân động mạch cánh tay đầu và động mạch cảnh chung trái có nguyên ủy chung

Mô hình này được thấy ở 13% các bệnh nhân (phổ biến hơn ở người da đen) và thường được nhắc đến một cách không chính xác là “cung động mạch chủ bò”.Thuật ngữ “cung động mạch chủ bò” là một thuật ngữ không chính xác và không được ưa chuộng để diễn tả bất thường này,do cung ĐM chủ thực sự ở bò có một mạch máu lớn duy nhất xuất phát từ cung ĐMC.

ĐM dưới đòn phải lạc chỗ

ĐM dưới đòn phải lạc chỗ được thấy ở 1% các bệnh nhân. ĐM dưới đòn phải xuất phát
trực tiếp từcung ĐMC bên ngoài ĐM dưới đòn trái và vòng ra sau thực quản trên đường
đi của nó tới tay phải.

Rất hiếm khi động mạch dưới đòn phải lạc chỗ gây ra các triệu chứng, nhưng bất thường
này có thể gây ra khó nuốt thông qua chèn ép thực quản, được gọi là khó nuốtlusoria.

Chụp thực quản bằng Bariumcho thấy có một vết khía phía sau thực quản. Mặc dù thường được phát hiện tình cờ, điều quan trọng là đề cập đến sự có mặt của một động mạch dưới đòn phải lạc chỗ khi đọc một phim CT cổ. Nếu có kế hoạch phẫu thuật tuyến giáp, khi đó dây thần kinh thanh quản quặt ngược sẽ không ở vị trí bình thường của nó. Túi thừa Kommerel là một chỗ phồng nhỏ tại nguyên ủy của ĐM dưới đòn phải lạc chỗ.

Động mạch đốt sống trái xuất phát từ động mạch chủ

ĐMC cho ra 4 nhánh, ĐM đốt sống xuất phát trực tiếp từ ĐMC được thấy ở 6% dân số.ĐM đốt sống trái là nhánh thứ bacủa ĐMC, gần ĐM dưới đòn trái.

Hội chứng ĐMC cấp

Tổng quan về hội chứng ĐMC cấp

Hội chứng ĐMC cấp miêu tả một dải lâm sàng của 3 bệnh có liên quan được đặc trưng bởi tổn hại ít nhất một thành phần của thành ĐMC,và biểu hiện bởi đau ngực cấp tính.

Thiếu hụt nguyên phát ở áo trong động mạch được thấy trong loét xuyên thành xơ vữa (PAU). Thiếu hụt ở lớp giữa chỉ diễn tả tụ máu trong vách (IMH).

Thiếu hụt ở lớp áo trong mở rộng tới lớp giữa là dấu hiệu của phình tách ĐMC.

Thiếu hụt ở cả ba lớp (cắt ngang ĐMC) gần như luôn gây ra bởi chấn thương và được cân nhắc là một thực thể riêng biệt.

Điều trị hội chứng ĐMC cấp phụ thuộc chủ yếu vào vị trí (ĐMC lên so với ĐMC xuống) và thường tương tự nhau bất kể nguyên nhân gây ra.

ĐMC lên: Điều trị phổ biến nhất là phẫu thuật.

ĐMC xuống: Điều trị phổ biến nhất là dùng thuốc (kiểm soát huyết áp).

Hình ảnh đầy đủ của ĐMC thường được cần đến trong bất kì bệnh ĐMC cấp nào.

Bóc tách ĐMC

Đặc trưng then chốt của bóc tách là sự phá vỡ lớp áo trong, cho phép dòng máu áp lực cao xâm nhập và làm mở rộng lớp áo giữa.

Yếu tố nguy cơ phổ biến nhất của bóc tách ĐMC là tăng huyết áp, nhưng có những yếu tố nguy cơ khác gồm các rối loạn mô liên kết (đặc biệt là hội chứng Marfan), sử dụng cocain, bệnh ĐMC liên quan đến hai lá van ĐMC, và tổn thương do giảm tốc đột ngột.

Bóc tách động mạch chủ được phân loại theo phân loại Stanford, phân chia bóc tách thành types A (động mạch chủ lên) và B (không phải ĐMC lên). Type A thường được điều trị bằng phẫu thuật, và type B thường điều trị nội khoa. Bóc tách ĐMC thứ phát sau xơ vữa động mạch thường gặp nhiều hơn ở type B (ĐMC xuống).

Tụ máu trong vách là một biến thể của bóc tách thành động mạch chủ nơi mà có sự tập trung máu bên trong áo giữa, không có dải nội mạc để kết nối tụ máu trong vách với lòng động mạch chủ. Tụ máu trong váchđược cho là do vỡ mạch của mạch, là các mạch máu nhỏ cấp máu cho thành động mạch chủ.

Tương tự như bóc tách, IMH có thể thứ phát sau chấn thương hoặc tăng huyết áp. • Trên lâm sàng, IMH có thể biểu hiện hệt như bóc tách ĐMC với cơn đau xé lưng cấp tính. Khuyến cáo điều trị IMH tương tự như điều trị bóc tách đối với sự tham gia của ĐMC lên và ĐMC xuống.

Hình ảnh then chốt của IMH là một hình lưỡi liềm mờ ngoại vi(45–50 HU) bên trong ĐMC, thấy rõ nhất trên CT không cản quang. Ở những bệnh nhân nguy cơ cao, CT đánh giá bóc tách ĐMC thường gồm có một CT không tăng cường trước khi làm CTA để đánh giá cụ thể IMH. Một chiến lược thay thể ở những bệnh nhân nguy cơ thấp là chỉ thực hiện CT không tăng cường nếu có nghi ngờ IMH trên CTA để làm giảm tiếp xúc phóng xạ.

Loét xuyên thành mảng xơ vữa (PAU)

Loét xuyên thành xơ vữa (PAU) là một khiếm khuyết cục bộ lớp áo trong xuất hiện tại vị trí mảng xơ vữa. PAU có thể dẫn đến hình thành khối phình dạng túi.

Đối ngược với bóc tách và IMH, PAU có xu hướng gây ra bởi xơ vữa hơn là tăng huyết áp. Một trong những lý thuyết về bóc tách thứ phát sau xơ vữa là nó bắt đầu như một loét xuyên.

Trên hình ảnh, PAU xuất hiện với hình ảnh loét vượt ra ngoài đường viền dự kiến của thành ĐMC.Khác biệt chủ yếu là một mảng xơ vữa loét đơn giản, sẽ không vượt ra ngoài đường viền dự kiến của thành ĐMC.

Mảng xơ vữa đại diện cho bệnh xơ vữa mạn tính và không phải hội chứng ĐMC cấp.

Đa vết loét có thể được thấy khắp ĐMC ngực-bụng, và giống như tất cả các bệnh ĐMC cấp tính, hình ảnh toàn bộ ĐMC được khuyến cáo nếu thấy có PAU.

Tổn thương chấn thương động mạch chủ

Chấn thương ĐMC

Tại nơi tổn thương chấn thương ĐMCthứ phát sau tổn thương giảm tốc, có ba mức độ cố định tương đối của ĐMC, là gốc, eo và lỗ. Giả phình được giữ tại chỗ bởi mô liên kết xung quanh. Một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhân sống sót sau chấn thương đụng dập ĐMC, tổn thương xuất hiện ở eo ĐMC trong 95% các trường hợp. Thường có các tổn thương kết hợp của nguyên ủy thân cánh tay đầu, ĐM cảnh trái hoặc ĐM dưới đòn trái.

CT động mạch chủlà tiêu chuẩn vàng để đánh giá khi nghi ngờ tổn thương chấn thương ĐMC.

Chấn thương chảy máu trung thất thường là từ tĩnh mạch; tuy nhiên, tổn thương ĐMC là mối lo ngại chủ yếu. Dấu hiệu trực tiếp trên CT của tổn thương chấn thương ĐMC gồmdải bóc tách, khối giả phình, và tụ máu trong vách. Tụ máu trung thất tách biệt với ĐMC còn nguyên vẹn bởi một mặt phẳng mỡ có thể coi như là tĩnh mạch, và điều trị thay đổi. Ngược lại, tụ máu có liên kết với thành ĐMC gợi ý tổn thương ĐMC và đòi hỏi phẫu thuật điều trị.

Phình ĐMC và những rối loạn hỗn hợp

Phình ĐMC ngực

Phình ĐMC ngựcđược định nghĩa là đường kính ĐMC lên>4 cm hoặc đường kính ĐMC xuống >3 cm. Kích thước ĐMC cũng có thể được chuẩn hóa với diện tích bề mặt cơ thể và so sánh với các giá trị tham khảo.

Tái dựng lại hình ảnh từ trục-ngắn xiên hai lần với mặt phẳng vuông góc với lòng ĐMC (tức là trục-ngắn thực sự) luôn nên được sử dụng để đo đường kính ĐMC.

Hầu hết phình ĐMC ngực được gây ra bởi xơ vữa ĐM, ĐMC xuống thường bị ảnh hưởng hơn. Gần 1/3 các bệnh nhân phình ĐMC ngực do xơ vữa sẽ có kèm theo phình ĐMC bụng.

Các nguyên nhân gây phình ĐMC ngực không phải xơ vữa ĐM gồm các rối loạn mô liên kết (chẳng hạn các hội chứngMarfan và Ehlers–Danlos), van hai lá ĐMC (BAV) liên quan đến bệnh ĐMC, viêm mạch máu (bao gồm viêm mạch máuTakayasu, viêm mạch máu tế bào khổng lồ, viêm cột sống dính khớp, và viêm đa sụn tái phát), hoại tử nang trung gian, viêm ĐMC nhiễm trùng.

Giãn vòng van gốc ĐMC thể hiện giãn xoangValsalva và ĐMC lên với sự xóa bỏ chỗ nối xoang-ống, dẫn đến ĐMC có hình hoa tuy lip. Tình trạng này có liên quan với hội chứng Marfan và Ehlers–Danlos.

Phẫu thuật điều trị được khuyến cáo cho khối phình ĐMC lên với đường kính>5.5 cm và phình ĐMC xuống >6 cm. Tuy nhiên, các bệnh nhân với rối loạn mô liên kết và bệnh ĐMC cóBAV (mối nối tiêu chuẩn cho thay van tim) có ngưỡng phẫu thuật thấp hơn là 4.5 cm. Ngoài tiêu chí về kích thước, tốc độ phát triển hàng năm>1 cm/năm (hoặc>5 mm/6 tháng) là một chỉ định của phẫu thuật sửa chữa.

Một dấu hiệu của dọa vỡ là dấu hiệu động mạch chủ màn rèm(draped aorta), thể hiện sự rủ xuống của ĐMC áp vào cột sống trên hình ảnh trục.

Biến chứng của điều trị TAA gồm vỡ, phình tách, nhiễm khuẩn, hở bên trong(endoleak),và liệt hai chân (gây ra bởi tắc ĐM Adamkiewicz).

Phình ĐMC bụng

Phình ĐMC bụng (AAA) tương đối phổ biến ở nam giới cao tuổi(thấy ở lên đến 5.9% nam giới trong độ tuổi 80) và ít phổ biến ở nữ giới. Vỡ phình ĐMC bụng là nguyên nhân thứ 13 gây tử vong ở nam giới cao tuổi. Những yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của phình ĐMCbụng gồm tuổi, giới nam, hút thuốc lá, tiền sử gia đình.

Phình ĐMC bụng được định nghĩa là ĐMC có đường kính ≥3 cm. Tương tự như đo lường phình ĐMC ngực, hình ảnh xiên-hai lần định dạng lại nên được sử dụng để có được đường kính cắt ngang thực sự. Đo lường thể tích cũng có thể được sử dụng để theo dõi khe hở bên trong (endoleak).

Quá trình tự nhiên của phình ĐMC bụng là sự mở rộng liên tục và cuối cùng là vỡ.

Sàng lọc bằng siêu âm cho các bệnh nhân có nguy cơ cao được chấp thuận bởi chương trình chăm sóc y tế cho những bệnh nhân trên 65 tuổi ở Mỹ. Nếu phát hiện được khối phình trên sàng lọc, việc theo dõi tiếp được khuyến cáo.

Khối phình<4 cm: theo dõi trong 6 tháng; nếu không thay đổitheo dõi hàng năm.

Khối phình 4–4.5cm:theo dõi trong 6 tháng;nếu không thay đổitheo dõi mỗi 6 tháng.

Khối phình 5–5.5 cm: cân nhắc phẫu thuật. Khối phình >5.5 cm: khuyến cáo phẫu thuật.

• Ngoài kích thước>5.5 cm, sửa chữa được khuyến cáo khi có tốc độ phát triển nhanh(>5 mm/năm) hoặc có triệu chứng.

• Tỷ lệ tử vong của sửa chữa AAA trì hoãn là>3%, trong khi ở sửa chữa khẩn cấp là 19%. Vỡ phình ĐMC có tỷ lệ tử vong ít nhất 50%.
• Sửa chữa phình ĐMC bụng có thể được thực hiện bằng phẫu thuật mở cổ điển hoặc kỹ thuật nội mạch. Sửa chữa nội mạch được ưu tiên cho các bệnh nhân có nguy cơ cao khi phẫu thuật và có làm giảm bệnh và thời gian nằm viện. Kết quả lâu dài là tương đương nhau giữa hai phương pháp, nhưng sửa chữa nội mạch thường đòi hỏi can thiệp lặp lại.
• Các biến chứng của sửa chữa nội mạch phình ĐMC bụng gồm vỡ, bóc tách, nhiễm khuẩn, khe hở trong (endoleak), và rò ĐMC-ruột.

Phình ĐMC bụng–Biến chứng rò bên trong (Endoleaks)

Endoleak là dòng chảy liên tục bên trong đoạn phình mạch bị loại bỏ sau khi điều trị nội mạch bằng stentgraft.

Type I: Mảnh ghép không đủ kín

Type IA là hở ở đầu gần và IB là hở ở đầu xa. Type IA endoleak: Không đủ kín ở đầu gần cho phép dòng máu chảy vào phần túi phình bị loại.

Đoạn không đủ kín ở đầu gần nổi bật hơn bình thường (mũi tên vàng).

Type II: Dòng chảy liên tục từ tuần hoàn bàng hệ đến phần bị loại bỏ của khối phình

TypeIIendoleaklà dòng chảy liên tục từ tuần hoàn bàng hệ tới túi phình,thường xuất phát từ ĐM thắt lưng hoặc ĐM mạc treo tràng dưới(IMA).

Type II: Sự thông thương từ ĐM mạc treo tràng dưới hoặc ĐM thắt lưng gây ra dòng máu chảy vào túi phình.

Hình ảnh trục cho thấy nổi bật cục bộ tại túi phình bị loại bỏ (mũi tên vàng), với sự thông thương mờ nhạt (mũi tên đỏ) tới ĐM mạc treo tràng dưới.

Type III: Do hỏng mảnh ghép

• Type III: mảnh ghép bị hỏng gây ra rò rỉ qua mảnh ghép.

Type III: Máu xâm nhập vào phần túi phình bị loại bỏ thông qua chỗ hỏng trên mảnh ghép.

CT cho thấytương phản thoát mạch (mũi tên vàng) qua góc gập của đoạn ghép ĐMC.

Type IV và V

• Cả type IV và type V được chẩn đoán loại trừ, dường như không thể hình dung được endoleak trên hình ảnh mặc dù túi phình tiếp tục tăng kích thước.

• Type IV: Type IVđược gây ra bởilỗ thủng trên mảnh ghép và thường thoáng qua. Type IV thường tự khỏi trong vòng một tháng sau ngừng chống đông. Nó ít khi thấy ở các mảnh ghép hiện đại.

Type V:Cũng được gọi là lực ép bên trong, type V endoleak là sự tiếp tục mở rộng khối phình mà không có bất kỳ chỗ rò trong nào khácđược cho là do một endoleak dưới độ phân giải của hình ảnh.

Các rối loạn hỗn hợp của động mạch chủ

Viêm ĐMC

Viêm ĐMC hoạt động: trên T1W sau-cản quang bão hòa chất béo của MRI cho thấy thành động mạch chủ dày chu vi và nổi bật (mũi tên).

• Viêm ĐMC có thể là nhiễm trùng hoặc viêm.

• Một biến chứng của viêm ĐMC nhiễm trùng là sự phát triển của phình mạch hình nấm.

Phình ĐM hình nấm do Staphylococcus aureus: CT tăng cường cản quang mặt phẳng trục dọc (ảnh trái) và mặt phẳng trán (ảnh phải) cho thấy thay đổi viêm đáng kể quanh ĐMC (mũi tên đỏ) kết hợp với phình ĐMC dạng túi (mũi tên vàng).

• Viêm ĐMC không nhiễm trùng có thể do viêm động mạchTakayasu, viêm động mạch tế bào khổng lồ, viêm cột sống dính khớp, viêm đa động mạch nút, viêm khớp dạng thấp, và bệnh phức hợp miễn dịch. Viêm động mạch chủ không nhiễm trùng được điều trị bằng corticoid.

• Trong giai đoạn cấp của viêm ĐMC, thành chu vi ĐMC dày và nổi bật. Điều này có thể liên quan với phình động mạch, bóc tách, hoặc tụ máu trong vách. Ngược với tụ máu trong vách, viêm ĐMC có xu hướng gây ra dày theo chu vi hơn là dày lệch tâm, hình liềm củaIMH. Phát hiện trên MRI của viêm ĐMC hoạt động bao gồm thành ĐMC dày >2 mm và nổi bật.

• Trong giai đoạn mạn tính của bệnh, có thể có đoạn hẹp dài và/hoặc phình động mạch.

Viêm động mạch Takayasu

Viêm động mạch Takayasu:

MR chụp mạch cung ĐMC trên mặt phẳng trục dọc-nghiêng cường độ chiếu tối đa (ảnh trái) cho thấy hẹp ĐM cảnh chung trái (mũi tên vàng) và động mạch dưới đòn trái (mũi tên đỏ). Chú ý nguyên ủy chung bất thường của thân cánh tay đầu và ĐM cảnh chung trái. MR chụp mạch đoạn ĐMC bụng trên mặt phẳng trán với cường độ chiếu tối đa (ảnh phải) ở một bệnh nhân tương tự cho thấy hẹp dài và mềm mại động mạch thân tạng (mũi tên xanh da trời), với hẹp cục bộ đoạn cho ra động mạch thận trái (mũi tên xanh lá cây).

• Cũng được gọi là bệnh không có mạch đập, viêm động mạch Takayasu là một bệnh viêm vôcăn các mạch máu lớn bao gồm ĐMC ngực và bụng, các ĐM dưới đòn, ĐM cảnh, ĐM phổi, và ĐM mạc treo tràng.

• Viêm động mạch Takayasu thường ảnh hưởng tới phụ nữ trẻ tới trung niên.

• Trên hình ảnh, hẹp dài và mềm mại là kinh điển. Thường không thể phân biệt được giữa bệnh và viêm động mạch tế bào khổng lồ dựa trên hình ảnh, với độ tuổi bệnh nhân là yếu tố phân biệt chính. Viêm động mạch Takayasu xảy ra ở những bệnh nhân tương đối trẻ và viêm động mạch tế bào khổng lồ hiếm gặp ở những bệnh nhân dưới 50 tuổi.

• Trong suốt giai đoạn cấp, điều trị bằng steroid. Nếu triệu chứng hẹp xuất hiện, điều trị nội mạchcó thể được thực hiện, nhưng chỉ khi tình trạng viêm hoạt động đã được giải quyết, được đánh giá bởi tốc độ máu lắng.

Hẹp ĐMC

HẹpĐMC: Trên mặt phẳng trán củaMR chụp mạch với cường độ chiếu tối đa (ảnh trái) cho thấy các nhánh bàng hệ trải khắp ngực, với sự nổi bật của các động mạch ngực trong (mũi tên vàng). Chụp CT hiển thị hình 3D theo thể tích động mạch chủ (ảnh trên phải) cho thấy hẹp (mũi tên xanh) phần xa eo động mạch chủ. Trên MRI chuỗi xung spin echo phục hồi đảo ngược đúp (ảnh dưới phải) cũng thể hiện hẹp.

• HẹpĐMC là bất thường bẩm sinh hẹp cục bộ đoạn gần ĐMC xuống. • Dạng trưởng thành của hẹp thường ở vị trí nối với ống động mạch,dẫn đến tăng huyết áp chi trên. Ngược lại,một trẻ sơ sinh với biểu hiện suy tim sung huyết do hẹp thường do biến thể hẹp trước ống ĐM, giống như tổn thương tắc nghẽn thất trái.

• Trong hẹp ĐMC,các nhánh bàng hệ phát triển giữa động mạch ngực trong tới cả động mạch thượng vị và các động mạch liên sườn.

• Phát hiện trên Xquang của hẹp gồm dấu hiệu số 3ở phần biên phía trên trái tim, thể hiện phình kép từ vị trí hẹp cục bộ và giãn sau chỗ hẹp.Khía xương sườn thường được thấy từ nhánh bàng hệ ĐM liên sườn.

• MRI tương phản pha có thể được sử dụng để đánh giá gradient dòng chảy qua chỗ hẹp.Đánh giá khác biệt dòng chảy giữa phần gần ĐMC xuống và ĐMC tại vị trí lỗ ĐMC giúp xác định đáng kể huyết động.

• Giả hẹp ĐMC biểu hiện hẹp cục bộ ĐMC,tương tự hình thái hẹp thực sự;tuy nhiên, không có khác biệt về huyết áp và do đó không có nhánh bàng hệ.

Chụp CT mạch vành

Bằng chứng của việc sử dụng CT mạch vành để đánh giá bệnh tim thiếu máu cục bộ

Chụp CT mạch vành(CCTA) là một thử nghiệm tuyệt vời để loại trừbệnh mạch vành huyết động đáng kể. Phân tích tổng hợp nhiều thử nghiệm đã chỉ ra giá trị tiên đoán âm tính choCCTA.

• Các thử nghiệm lâm sàngACRIN-PA vàROMICAT-II (đều được công bố trên NEJM 2012) đánh giá việc sử dụng CT mạch vành ở phòng cấp cứu với các bệnh nhân đau ngực cấp có nguy cơ thấp đến trung bình. Cả hai thử nghiệm kết luận rằng CCTA sớm cải thiện hiệu quả, đưa ra quyết định lâm sàng, và dẫn đến thời gian nằm viện ngắn hơn, mặc dù thử nghiệmROMICAT-II không chú ý tới sự gia tăng tiếp xúc phóng xạ ở nhóm CCTA và không có khác biệt đáng kể về chi phí.

• CT mạch vành rất nhạy cho hẹp đáng kể huyết động (>50% đường kính bên trong); tuy nhiên, hẹp được phát hiện trên CT có thể được thấy quá mức vốn có, đặc biệt là nếu có mảng vôi hóa, có thể gây ra hình ảnhhẹp nhiều hơn thực tế. ECG gắn cổng (ECG gating) và liều phóng xạ

• ECG gắn cổng được sử dụng để làm giảm đến tối thiểu sự vận động của tim.Lựa chọn ECG gắn cổng có một ảnh hưởng lớn đến liều phóng xạ của bệnh nhân. Để ước lượng liều phóng xạ, liều theo chiều dài quét (DLP) nên được nhân với hệ số chuyển đổi 0.017 để đạt được liều tính theo millisievert.

• Trong việc kiểm tra cổng hồi cứu(retrospectively gated), CT quét liên tục được thực hiện trong suốt chu kì tim và hình ảnh được tương quan với chu kì ECG sau đó. Lợi thể chủ yếu của cổng hồi cứulà khả năng tạo dựng lại phim để đánh giá chức năng tim và van tim, thường bởi 10-20 khung cho một chu kì tim. Bất lợi chủ yếu của là làm tăng đáng kể sự tiếp xúc phóng xạ so với nghiên cứu cổng tiến cứu.

• Đối với cổng tiến cứu (prospective gating),ECGđược sử dụng để thu được hình ảnh thời gian tại một giai đoạn đặc biệt trong chu kì tim,tiếp xúc với phóng xạ của bệnh nhân chỉ xảy ra trong giai đoạn này của chu kì tim. Lợi thế chính của cổng tiến cứu là làm gảm tiếp xúc với phóng xạ. Tuy nhiên, do chỉ có một phần trong chu kì tim được thu lại, việc xây dựng lại phim là không thể. Phân giải không gian và phân loại hẹp

• Các động mạch vành có đường kính trung bình khoảng 3mm.

• CT có độ phân giải đẳng hướng ba chiều 0.35 tới 0.5 mm, chỉ cho phép 6 đến 9điểm ảnhđể có hình ảnh toàn bộ lòng động mạch vành. Điều này là không đủ độ phân giải để phân loại hẹp với độ chính xác lớn hơn khoảng 20% đường kính.

• Ngược lại,chụp mạch với catheter có độ phân giải không gian khoảng 0.16mm, để miêu tả lòng của một động mạch vành qua khoảng 18pixel.

• Do giới hạn độ phân giải không gian của CT, hẹp ĐM vành được phân loại thành các dạng: <20%; 20–50%; 50–70%, hoặc>70%. Hẹp >50% được coi là có tiềm năng huyết động đáng kể. Ngược lại, hẹp <50% được cho là không có huyết động đáng kể. Độ phân giải thời gian và “đóng băng” vận động của tim

• CT scan đòi hỏi hơi nhiều hơn 180 độ của giàn xoay cho hình ảnh thu được: Một lần xoay hoàntoàn 330 ms, độ phân giải thời gian là ~175 ms.

• CT nguồn kép có hai nguồn Xquang định hướng 90 độ so với nhau và chỉ cần xoay 90 độ để hoàn thành một tái thiết,với độ phân giải thời gian ~75ms.

Phương thức

• Nhịp tim chậm(thường dưới 60 nhịp/phút) được đề nghị để làm tăng khoảng R-R.

• Các thuốc chẹn beta thường cần đến để đạt được nhịp tim mục tiêu này. Metoprolol đường uống được dùng(trong khoảng 5 và 25 mg, thường dùng liều 5 mg). Các thuốc chẹn beta đường uống kiểm soát nhịp tim tốt hơn và làm giảm biến thiên nhịp tim tốt hơn so với đường tĩnh mạch.

• Ngay trước khi scan, dùng Nitroglycerin đường dưới lưỡi (0.5–0.8 mg) để làm giãn động mạch vành.

Giải phẫu động mạch vành

• Sơ đồ trên theo định hướng giải phẫu, giống như một người đang nhìn trực tiếp vào bệnh nhân từ phía trước.

Nguyên ủy ĐM vành

Thông thường nhất, có hai động mạch vành xuất phát từ đoạn gần ĐMC tại xoang Valsalva. Bất thường phổ biến nhất là xuất phát cao từ chỗ nối xoang-ống hoặc bên trên. Có ba xoang vành. ĐM vành phải xuất phát từ xoang vành phải (nằm phía trước); ĐM vành trái xuất phát từ xoang vành trái (nằm phía sau-trái); và động mạch không vành xuất phát từ xoang không vành(nằm phía sau-phải).

Nhánh chính ĐM vành trái (LMCA)

• Nhánh chính ĐM vành trái xuất phát giữa ĐM phổi và tiểu nhĩ trái (LAA).

• LMCA chia thành hai nhánh liên thất trước (LAD) và nhánh mũ trái (LCx). Một nhánh trung giancó thể có để tạo thành ngã ba.

Nhánh liên thất trước ĐM vành trái (LAD)

• Nhánh liên thất trước ĐM vành trái (LAD) bắt nguồn phía trước rãnh liên thất, là rãnh giải phẫu giữa thất phải và thất trái.

• LAD cho ra các nhánh chéo (LAD Diagonal) và các nhánh vách, đi qua vách liên thất để cấp máu cho nửa trước của vách. Nhánh mũ ĐM vành trái (LCx)

Nhánh mũ ĐM vành trái (LCx)

• Nhánh mũ ĐM vành trái chạy dưới tiểu nhĩ tráitrong rãnh nhĩ thất trái (giữa nhĩ trái và thất trái).

• LCx cho ra nhánh lề tù (OM; circOMflex), cấp máu cho thành sau ngoài thất trái.Góc của thành ngoài của ĐM này tù do đó có tên như vậy.

• LCx khác thường(~7%) cung cấp nhánh xuống sau(PDA), là tiêu chí của hệ thống ưu thế-trái. Trong mô hình giải phẫu ở trang trước, hệ thống ưu thế phải được thể hiện, động mạch vành phải cung cấp nhánh PDA. ĐM vành phải (RCA)

ĐM vành phải (RCA)

• ĐM vành phải (RCA) phản chiếu đường đi của LCx, ngồi trong rãnh nhĩ thất phải.

• Nhánh đầu tiên của RCA là nhánh nón, về phía trước (cung cấp đường ra thất phải) và nhánh nút xoang về phía sau.

• RCA cho ra nhánh bờ nhọn, chạy phía trước thành tự do thất phải(RV) và các nhánh cơ cho thành tự do thất phải (không được vẽ). Nhánh nút nhĩ thất(AVN) đi ra tại vị trí nút (giao của bốn buồng tim nơi rãnh nhĩ thất và liên thất giao nhau).

• Nhánh sau xuống (PDA) xuất phát từ RCA trong khoảng 85% để cấp máu cho nửa sau của vách tâm thất.

• Nhánh tận của RCA phổ biến nhất là động mạch sau ngoài (PLA) cung cấp cho phần sau thất trái.

Xác định dạng ưu thế

• Bên nào cung cấp PDA, PLA, và nhánh nút nhĩ thất(AVN), bên đóđược coi là động mạch vành ưu thế. Phổ biến nhất, trong khoảng 85% các trường hợp, RCA là ĐM ưu thế.

• Giải phẫu ưu thế-trái là không phổ biến,xuất hiện ở khoảng 7%các trường hợp.Trong giải phẫu ưu thế-trái, LCx cho ra PDA, PLA, vàAVN.

• Giải phẫu đồng ưu thế cũng có thể được thấy trong khoảng 7% các trường hợp,thường RCA cho ra PDA, trong khi LCx cho raPLA.

Bất thường cấu trúc động mạch vành


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net